Sau khi nghiên cứu Chương 2 của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, chúng tôi thấy rằng, nội dung của chương này đã thể hiện được quan điểm, tư tưởng của Đảng và Nhà nước ta về tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam. Tuy nhiên, nếu hoàn thiện thêm về nội dung và kỹ thuật lập hiến, thì quan điểm, tư tưởng về nhân quyền của Đảng và Nhà nước ta sẽ được phản ánh một cách đầy đủ và toàn diện hơn. Bài viết này xin được góp ý kiến để hoàn thiện các vấn đề nêu trên.
Trước hết, chúng tôi cho rằng, việc phân bố các điều trong chương chưa tuân theo một trật tự nhất định, nên khó theo dõi. Bởi vậy, để cho hợp lý, chặt chẽ và rõ ràng hơn, theo chúng tôi, nên chia Chương 2 thành 3 mục:
Mục 1: Nguyên tắc chung về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (trong Dự thảo gồm các Điều 15 - 20, 51 - 52);
Mục 2: Quyền con người và quyền cơ bản của công dân (trong Dự thảo gồm các Điều 21 - 46)
Mục 3: Nghĩa vụ cơ bản của công dân (trong Dự thảo gồm các Điều 41, 46 - 50).
Hiến pháp của nhiều nước trên thế giới cũng phân chia thành các mục trong mỗi chương như vậy. Ngoài ra, cần quy định những bảo đảm của Nhà nước đối với quyền con người, quyền công dân đã được ghi nhận để các quyền đó có tính hiện thực. Các bảo đảm đó cần được quy định rõ ràng, dứt khoát về chính sách, pháp luật, cơ chế và những hoạt động thực tiễn của Nhà nước chứ không quy định theo công thức: “Nhà nước tạo điều kiện…” hay “quyền… được Nhà nước bảo hộ” hoặc “quyền… được pháp luật bảo hộ”, v.v.
Dưới đây là những góp ý của chúng tôi đối với từng điều trong mỗi mục.
Mục 1: Nguyên tắc chung về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
Điều 15:Trong khoản 1 nên bỏ cụm từ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa” vì cụm từ này thường đứng sau từ “Nhà nước” để chỉ hình thức chính thể của Nhà nước ta, chứ không thể đứng sau từ “nước” chỉ quốc gia (đất nước, tổ quốc) Việt Nam; bỏ từ “bảo vệ” vì trong “bảo đảm” đã có bảo vệ rồi, pháp luật không chỉ có tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện quyền con người, quyền công dân; bỏ cụm từ “Hiến pháp và” vì “Hiến pháp” chỉ là một dạng (hình thức, loại) văn bản quy phạm pháp luật có chứa đựng các quy phạm pháp luật, còn “pháp luật” là hệ thống các quy phạm pháp luật, do vậy, hai khái niệm pháp lý này không thể đứng cùng hàng với nhau được và không thể thay thế nhau được. Nếu sử dụng từ “Hiến pháp” thì sau đó phải là cụm từ “và luật”. Với việc bỏ một số từ, cụm từ nêu trên, khoản 1 sẽ được diễn đạt lại như sau: “Ở nước Việt Nam, quyền con người, quyền công dân được Nhà nước và xã hội thừa nhận, tôn trọng và bảo đảm theo pháp luật”.
Ở khoản 2, nên bỏ từ “có thể” và bổ sung từ “bởi luật” hay “bằng luật” hoặc cụm từ “theo quy định của luật” và đặt các từ, cụm từ này sau từ “giới hạn”, vì khoản 2 Điều 20 của Dự thảo đã quy định quyền công dân do Hiến pháp và luật quy định (Hiến pháp cũng là luật nhưng là luật cơ bản), do đó chỉ có luật mới hạn chế được quyền con người, quyền công dân. Nên bỏ đoạn “trong trường hợp cần thiết vì lý do…”, đồng thời chuyển khoản 2 Điều 16 (mới) lên làm khoản 3 Điều 15.
Điều 16 (mới): Bởi đã lấy khoản 2 làm khoản 3 Điều 15, nên còn khoản 1, nhưng theo chúng tôi, cũng không cần thiết phải quy định như vậy vì 3 lý do chủ yếu: (i) Trong Mục 1 này chỉ chứa đựng các điều quy định các nguyên tắc chung về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân chứ không bao gồm những điều quy định các nghĩa vụ cụ thể của mọi người; (ii) Khoản 1 Điều 20 đã quy định quyền công dân không tách rời nghĩa công dân, có nghĩa là khi được hưởng quyền thì công dân cũng phải thực hiện nghĩa vụ, trong đó có nghĩa vụ tôn trọng quyền của công dân khác và (iii) Đã có Điều 49 thuộc Mục 3 quy định nghĩa vụ của công dân “chấp hành Hiến pháp và pháp luật”, trong đó có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác.
Điều 18: Cần có thêm cụm từ “của Nhà” trước từ “nước” trong khoản 1 mới chính xác về mặt khoa học, hoặc chỉ cần quy định: “Công dân của Nhà nước Việt Nam”, vì “công dân” là khái niệm pháp lý chỉ một cá nhân có mối quan hệ pháp lý ràng buộc với Nhà nước Việt Nam chứ không phải với quốc gia Việt Nam, đất nước Việt Nam. Trên cơ sở nhận thức như vậy, cũng có thể bằng phương pháp giản ước sử dụng cụm từ “Công dân Việt Nam” (ở đây có sự khác nhau về mặt bản chất giữa hai khái niệm “công dân Việt Nam” và “người Việt Nam”: “công dân Việt Nam” chỉ một cá nhân có mối quan hệ pháp lý ràng buộc với Nhà nước Việt Nam, còn “người Việt Nam” chỉ một cá nhân có nguồn gốc Việt Nam); bỏ khoản 2; trong khoản 3 nên bỏ cụm từ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa” và thay từ “Việt Nam” bằng từ “của mình” sau từ “công dân”. Như vậy, đoạn văn này sẽ được diễn đạt lại là: “Nhà nước Việt Nam bảo hộ công dân của mình ở nước ngoài” và trở thành khoản 2 của Điều 18.
Điều 19:Đoạn văn cuối của khoản 2 “… giữ quan hệ gắn bó... đất nước” nên bổ sung cụm từ “đất nước và” trước từ “góp phần” và từ “gia đình” sau từ “xây dựng”. Như vậy, đoạn văn này sẽ được diễn đạt lại như sau: “… giữ quan hệ gắn bó với gia đình, quê hương, đất nước và góp phần xây dựng gia đình, quê hương, đất nước”.
Điều 20 được sắp xếp lại như sau: Khoản 1 được giữ nguyên; khoản 2 được lấy lại từ đoạn 2 Điều 51 Hiến pháp năm 1992 hiện hành nhưng có sửa đổi, bổ sung như sau: “Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân, công dân thực hiện đầy đủ (chứ không phải “làm tròn”) nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội”; khoản 3 là khoản 2 hiện có của Điều 20 trong Dự thảo.
Chuyển Điều 51 và Điều 52 vào Mục 1, nhưng có sửa đổi, bổ sung:
Điều 51: Thay từ “tuân theo” bằng từ “thực hiện” vì tuân theo pháp luật chỉ là một trong 4 hình thức thực hiện pháp luật mà thôi; bỏ cụm từ “Hiến pháp và” với lý do như trên đã giải thích; thêm từ “Việt Nam” sau từ “Nhà nước”.
Điều 52: Bỏ cụm từ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa” và bổ sung cụm từ “ở Việt Nam” sau từ “cư trú”.
Mục 2: Quyền con người và quyền cơ bản của công dân
Theo chúng tôi, nên sắp xếp lại các điều ghi nhận (chứ không phải là “quy định”) quyền con người, quyền cơ bản của công dân theo thứ tự các quyền về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội (kế thừa cách sắp xếp hợp lý tại Điều 50 của Hiến pháp năm 1992 hiện hành).
Căn cứ vào các điều hiện có trong Dự thảo, chúng tôi thấy đối với các quyền chính trị có: Quyền bầu cử, quyền ứng cử (Điều 28); quyền tham gia quản lý nhà nước (Điều 29); quyền biểu quyết (Điều 30); quyền khiếu nại, quyền tố cáo (Điều 31). Về các quyền dân sự, có quyền sống (Điều 21); quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và quyền hiến mô, hiến bộ phận cơ thể người và hiến xác (Điều 22); quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và trao đổi thông tin riêng tư; quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình (Điều 23); quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước (Điều 24); quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 25); quyền tự do ngôn luận, báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình (Điều 26); quyền bình đẳng nam nữ (Điều 27); quyền được suy đoán vô tội (Điều 32); quyền sở hữu tài sản hợp pháp và quyền thừa kế tài sản hợp pháp (Điều 33); quyền có nơi ở hợp pháp (Điều 36); quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở hợp pháp (Điều 37), quyền sở hữu trí tuệ (khoản 2 Điều 43); quyền được xác định nguồn gốc dân tộc (Điều 45); quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 46). Đối với các quyền kinh tế, có quyền sở hữu hợp pháp tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế hợp pháp (Điều 33); quyền tự do kinh doanh và quyền được Nhà nước bảo hộ quyền tự do kinh doanh (Điều 34); quyền làm việc, quyền lựa chọn việc làm, nghề nghiệp và nơi làm việc (Điều 38). Về các quyền văn hóa, có quyền học tập (Điều 42); quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, quyền sáng tạo văn học và nghệ thuật (Điều 43); quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa, quyền tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa và tiếp cận các giá trị văn hóa (Điều 44); quyền sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, tự do lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều 45). Đối với các quyền xã hội, có các quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 35); quyền kết hôn và ly hôn (Điều 39); quyền của trẻ em (Điều 40); quyền được bảo vệ sức khỏe (Điều 41).
Chúng tôi xin góp ý sửa đổi, bổ sung về các vấn đề trên như sau:
a. Đối với các điều ghi nhận quyền chính trị
Điều 28: Bổ sung bảo đảm của Nhà nước đối với quyền bầu cử và quyền ứng cử của công dân Việt Nam.
Điều 29: Bỏ từ “tham gia” sau từ “quyền” trước từ “thảo luận” trong khoản 1; đối với khoản 2 cần thay cụm từ “tạo điều kiện” bằng những hoạt động chủ yếu của Nhà nước đối với quyền quản lý nhà nước và xã hội của công dân và bỏ từ “tham gia” sau từ “công dân” và cả đoạn “công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân”.
Điều 30: Cần ghi rõ là: “Công dân có quyền biểu quyết Hiến pháp và các vấn đề quan trọng khác của quốc gia khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân” và bổ sung bảo đảm của Nhà nước đối với quyền biểu quyết của công dân.
Bổ sung quyền phản biện của công dân đối chính sách, pháp luật của Nhà nước và những bảo đảm của Nhà nước đối với quyền này.
- Đối với các điều ghi nhận quyền dân sự
Ghép Điều 21 với Điều 22 có sửa đổi, bổ sung thành 3 khoản (bỏ khoản 3 Điều 22 của Dự thảo) như sau: 1. “Mọi người đều có quyền sống và quyền được chết theo quy định của pháp luật”; 2. “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm” (bỏ cụm từ “được pháp luật bảo hộ về…”); 3. “Nghiêm cấm mọi... của con người” (giữ lại toàn bộ khoản 2 Điều 22 của Dự thảo).
Điều 23: Bổ sung đoạn “bất khả xâm phạm về” sau cụm từ “có quyền” ở khoản 2.
Điều 24:Thay từ “Công dân” bằng từ “Mọi người” và bỏ cụm từ “theo quy định của pháp luật”; bổ sung bảo đảm của Nhà nước đối với quyền này.
Điều 26: Thay từ “Công dân” bằng từ “Mọi người”; bỏ cụm từ “theo quy định của pháp luật” và bổ sung bảo đảm của Nhà nước đối với quyền này.
Điều 27: Bỏ từ “Công dân” trong khoản 1; ở khoản 2 nên bỏ cụm từ “có chính sách”, từ “công dân” và đoạn văn cuối “Nhà nước, xã hội và gia đình…xã hội”; thay cụm từ “về giới” bằng cụm từ “với phụ nữ” trong khoản 3.
Điều 32: Cần diễn đạt lại khoản 2 cho rõ ý đồ của nhà lập hiến, nếu không thì thôi vì theo tinh thần của khoản 1 thì người bị buộc tội đã có quyền yêu cầu tòa án xét xử để khẳng định người đó có tội hay không có tội.
Điều 33:Chỉ nên ghi nhận quyền sở hữu của mọi người về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt vì quyền sở hữu này do pháp luật dân sự điều chỉnh và bảo đảm của Nhà nước, còn quyền sở hữu về tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác, kể cả đất được Nhà nước giao sử dụng thì do pháp luật kinh tế điều chỉnh và ghi nhận quyền sở hữu này cùng bảo đảm của Nhà nước ở phần các điều ghi nhận quyền kinh tế.
Điều 36:Thay từ “Công dân” bằng từ “Mọi người” ở khoản 1 và khoản 2, đồng thời diễn đạt lại khoản 2 theo hướng chỉ rõ những bảo đảm cụ thể của Nhà nước để mọi người có được nơi ở hợp pháp, ổn định chứ không quy định chung chung và khó hiểu như thế này (thế nào là “chính sách tạo điều kiện”?).
Điều 45:Chỉ lấy đoạn “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình” nhưng thay từ “Công dân” bằng từ “Mọi người” và bổ sung từ “nguồn gốc” trước từ “dân tộc”, theo đó chúng ta có: “Mọi người có quyền xác định nguồn gốc dân tộc của mình”.
Điều 46: Bổ sung quyền của mọi người được sống trong môi trường xã hội trong sạch (hay trong lành), và như vậy thì khoản 1 được diễn đạt lại như sau: “Mọi người có quyền được sống trong môi trường xã hội và môi trường tự nhiên trong sạch (hay trong lành)”.
b. Đối với các điều ghi nhận quyền kinh tế
Điều 33: Lấy một phần nội dung của Điều 33 hiện có trong Dự thảo để lập một điều riêng có hai khoản: Khoản 1 ghi nhận: “Mọi người có quyền sở hữu về tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác”; Khoản 2 quy định những bảo đảm của Nhà nước đối với quyền này.
Điều 38:Thay từ “Công dân” bằng từ “Mọi người”; đưa nội dung khoản 2 vào khoản 1 nhưng bổ sung từ “người” sau từ “cưỡng bức” và thay dấu phẩy (,) sau cụm từ “cưỡng bức người lao động” bằng liên từ “và”. Với việc sửa đổi, bổ sung như vậy, khoản 1 Điều 38 được diễn đạt như sau: “Mọi người có quyền làm việc, lựa chọn việc làm, nghề nghiệp và nơi làm việc. Nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức người lao động và sử dụng người lao động chưa thành niên trái pháp luật”. Bên cạnh đó cũng cần bổ sung khoản 2 mới quy định những bảo đảm của Nhà nước đối với quyền làm việc, quyền lựa chọn việc làm, nghề nghiệp và nơi làm việc. Bổ sung 2 điều mới ghi nhận lại quyền của người sản xuất và quyền của người tiêu dùng được Nhà nước bảo vệ quyền lợi mà Điều 28 Hiến pháp năm 1992 đã ghi nhận, đồng thời quy định và những bảo đảm của Nhà nước đối với quyền của hai chủ thể quyền đó.
c. Đối với các điều ghi nhận quyền văn hóa
Điều 42: Kết cấu lại thành 2 khoản. Khoản 1 ghi nhận lại như sau: “Mọi người có quyền học tập”. Khoản 2 quy định những bảo đảm của Nhà nước đối với quyền học tập với một số nội dung có thể được kế thừa từ Điều 59 Hiến pháp năm 1992 hiện hành, như Nhà nước thực hiện chính sách học phí, học bổng hợp lý; chính sách phát triển tài năng đối với học sinh có năng khiếu và chính sách ưu tiên đối với trẻ em khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
Điều 43:Nên bổ sung những bảo đảm của Nhà nước đối với quyền nghiên cứu khoa học, công nghệ và quyền sáng tạo văn học, nghệ thuật bằng những hoạt động thực tiễn chủ yếu về xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật đó chứ không quy định chung chung là “Quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ”.
Điều 44: Bổ sung những bảo đảm của Nhà nước đối với quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa và tiếp cận các giá trị văn hóa.
Điều 45:Thay từ “Công dân” bằng từ “Mọi người” và cần quy định rõ hơn mục đích và những trường hợp, hoàn cảnh sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, đồng thời, bổ sung những bảo đảm của Nhà nước đối với quyền sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ và quyền tự do lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp.
d. Đối với các điều ghi nhận quyền xã hội
Điều 35: Thay từ “Công dân” bằng từ “Mọi người” và cân nhắc, tính toán lại xem có nên sử dụng cụm từ “an sinh xã hội” hay không, vì đây là một thuật ngữ (khái niệm) khá phức tạp mà không phải ai cũng hiểu được nội hàm của nó? Theo khoa học, khái niệm “an sinh xã hội” có nội hàm rất rộng, gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp xã hội, cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội. Vì vậy, nên kế thừa cách thức thể hiện của Hiến pháp năm 1992 hiện hành là quy định rõ chủ thể cụ thể nào, có quyền gì trong mỗi lĩnh vực của an sinh xã hội và những bảo đảm của Nhà nước đối với các quyền đó. (Ví dụ: Điều 67 Hiến pháp năm 1992 ghi nhận: Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ có quyền được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước).
Điều 39: Sửa lại khoản 1 như sau: “Nam, nữ có quyền kết hôn và việc kết hôn theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, một vợ một chồng; vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và đều có quyền ly hôn”.
Điều 40:Khoản 2 được diễn đạt như hiện tại là thành câu cụt (hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc,…ai?), do vậy, nên diễn đạt lại như sau: “Nghiêm cấm hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng trẻ em; bóc lột sức lao động của trẻ em và những hành vi khác xâm hại quyền trẻ em”.
Điều 41: Trong khoản 1 nên thay từ “Công dân” bằng từ “Mọi người” và dừng lại sau từ “y tế”, còn đoạn “có nghĩa vụ thực hiện… đến hết…” sẽ được chuyển vào một điều khác quy định nghĩa vụ của mọi người; nối nội dung của khoản 2 vào khoản 1 và xác lập khoản 2 mới quy định bảo đảm của Nhà nước đối với quyền được bảo vệ sức khỏe của mọi người với nội dung có thể được kế thừa một số điểm trong Điều 61 Hiến pháp năm 1992 hiện hành, như quy định và thực hiện chế độ viện phí, chế độ miễn, giảm viện phí,v.v…
Mục 3: Nghĩa vụ cơ bản của công dân
Trong Dự thào, các điều quy định nghĩa vụ của công dân cần được sắp xếp lại một cách hợp lý và khoa học hơn. Theo chúng tôi, các điều luật đó cần được sắp xếp theo trình tự các nghĩa vụ, như: Trung thành với Tổ quốc (Điều 47); bảo vệ Tổ quốc (Điều 48); nghĩa vụ quân sự và xây dựng quốc phòng toàn dân (Điều 48); chấp hành pháp luật và các quy tắc sinh hoạt công cộng, bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội (Điều 49); thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh (Điều 41); bảo vệ môi trường (Điều 46); nộp thuế (Điều 50).
Đối với các điều trong Dự thảo, chúng tôi có một số ý kiến như sau:
Điều 47:Thay cụm từ “có nghĩa vụ” bằng từ “phải”.
Điều 48:Diễn đạt lại là: “Công dân phải bảo vệ Tổ quốc, thực hiện (bỏ từ “làm”) nghĩa vụ quân sự và (bỏ từ “tham gia”) xây dựng quốc phòng toàn dân”. Bỏ đoạn “việc thực hiện nghĩa vụ thay thế…”.
Điều 49:Diễn đạt lại cho gọn và hợp lý hơn như sau: “Công dân phải (bỏ cụm từ “có nghĩa vụ”) thực hiện (bỏ từ “chấp hành” và cụm từ “Hiến pháp và”) pháp luật và các quy tắc sinh hoạt công cộng, bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội”.
Điều 41:Diễn đạt lại cho gọn và hợp lý hơn như sau: “Công dân phải thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh”.
Điều 46:Diễn đạt lại cho gọn và hợp lý hơn như sau: “Công dân phải bảo vệ môi trường”.
Điều 50:Diễn đạt lại cho gọn và hợp lý hơn như sau: “Công dân phải nộp thuế”./.PGS.TS. NGUYỄN VĂN ĐỘNG