Có cần thiết phải đổi tên nước?

2:38 PM |

Trong bài “Tiếp thu ý kiến góp ý Hiến pháp đến tháng 10(1) trên trang tuổi trẻ ngày 03/3/2013.

           Xung quanh vấn đề “đặt lại tên nước” có rất nhiều ý kiến khác nhau, phần lớn xoay quanh việc sử dụng cụm từ “ cộng hòa”, “dân chủ” giống như các nước đi theo chế độ tư bản chủ nghĩa hiện đang sử dụng. 

Cũng có nhiều ý kiến yêu cầu đặt lại tên nước dựa trên căn cứ cho rằng “Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” chưa phải là nước xã hội chủ nghĩa vì thế “ không phản ánh được thực tế, đồng thời có thể gây ngộ nhận cho nhân dân về chủ nghĩa xã hội”. Tôi thiết nghĩ, để có được nhà nước “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” như ngày hôm nay có biết bao chiến sỹ, đồng bào Việt Nam đã phải hi sinh xương máu vì lý tưởng cộng sản, vì độc lập dân tộc, vì quyết tâm xây dựng một chế độ nhà nước của dân, do dân và vì dân mà ở đó không còn cảnh người bóc lột người, mọi người cùng phấn đấu xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp. Việc lấy tên nước “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (02/7/1976 Quốc hội Việt Nam - khóa VI) có ý nghĩa quan trọng để dân ta luôn nhớ đến mục tiêu, lý tưởng và nhiệm vụ là cần nỗ lực phấn đấu thực hiện cho bằng được một chế độ xã hội tiên tiến nhất, tốt đẹp nhất trên lãnh thổ Việt Nam và đây cũng chính là nguyện vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam.

Trích dẫn http://tuoitre.vn/chinh-tri-xa-hoi/536227/tiep-thu-y-kien-gop-y-hien-phap-den-thang-10.html
Chí Dũng
Read more…

Không thể chấp nhận quan điểm “phi chính trị hoá Quân đội”

2:44 PM |

Trong tham gia Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, có người đưa ra quan điểm “phi chính trị hóa quân đội”, yêu cầu “quân đội đứng ngoài chính trị”, cho rằng “quân đội là để bảo vệ nhân dân, bảo vệ Tổ quốc, không phải bảo vệ bất cứ một đảng phái hay một thể chế chính trị nào”. Thực chất của quan điểm đó là gì và vì sao không thể chấp nhận?

Có thể nói, người đưa ra quan điểm nói trên chưa nghiên cứu kỹ về lý luận cũng như thực tiễn tổ chức và hoạt động của quân đội; chưa hiểu rõ ngọn nguồn của quan điểm “phi chính trị hóa quân đội” xuất hiện như thế nào và với mục đích gì; nhất là chưa am hiểu sâu sắc về bản chất quân đội kiểu mới của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Về bản chất, quân đội bao giờ cũng là công cụ bạo lực của một giai cấp, Nhà nước, đảng chính trị để tiến hành đấu tranh vũ trang nhằm thực hiện mục đích chính trị nhất định. Quân đội có bổn phận bảo vệ đảng và thể chế chính trị tổ chức, nuôi dưỡng và lãnh đạo, chỉ huy quân đội. Khi lợi ích của giai cấp, Nhà nước, đảng chính trị thống nhất với lợi ích của nhân dân lao động thì quân đội đồng thời bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân. Khi quan hệ lợi ích đó mâu thuẫn gay gắt và không thể điều hòa, nhà nước của các giai cấp bóc lột sử dụng quân đội để trấn áp sự phản kháng của nhân dân, thậm chí có lúc đứng về phía quân xâm lược để đàn áp phong trào yêu nước.
Quan điểm “phi chính trị hóa quân đội” thường xuất hiện ở những nền chính trị có cấu trúc đa đảng đối lập, nhất là khi sự tranh giành quyền lực giữa các đảng phái chính trị diễn ra gay gắt, dẫn đến khủng hoảng chính trị. Về thực chất, những người đưa ra quan điểm đó muốn quân đội đứng ngoài cuộc đấu tranh của các đảng phái chính trị nhằm giành quyền kiểm soát các cơ quan quyền lực Nhà nước, nhưng trong thực tế không có quân đội đứng ngoài chính trị. Trong cuốn “Đảng phái và chính trị ở Hoa Kỳ”, nhà nghiên cứu chính trị Mỹ Clinton Rossiter đã phân tích sâu sắc sự chia rẽ, tranh giành quyền lực dẫn đến những xung đột chính trị giữa Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa, coi đó là một đặc trưng của chính trường Mỹ. Dấu ấn trong bốn năm đầu của Tổng thống B.Ô-ba-ma chính là những đối đầu giữa hai đảng ở quốc hội hơn là những đạo luật và quyết sách được thông qua. Hai năm cuối trong nhiệm kỳ đầu của B.Ô-ba-ma, chính quyền gần như tê liệt bởi đảng Cộng hòa nắm đa số ở Hạ viện đã phủ quyết hầu hết các quyết sách của Tổng thống. Trong bối cảnh đó, nhiều tướng lĩnh và chính khách đã kêu gọi “quân đội đứng ngoài chính trị”, nhưng trong thực tế cả hai đảng đều ra sức tranh giành sự ủng hộ về chính trị của quân đội.
Ở Thái Lan, mặc dù nhiều lần các chính khách yêu cầu “quân đội đứng ngoài chính trị”, có lúc cả Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cam kết “quân đội không can dự vào chính trường”, thậm chí Hiến pháp năm 1997 của Thái Lan tuyên bố loại quân đội khỏi chính trị, nhưng trong thực tế không có điều đó. Ngày 19-9-2006, tướng Sonthi cùng một số tướng lĩnh quân đội làm đảo chính lật đổ chính phủ của Thủ tướng Thaksin. Trong 5 năm (2006-2011), các cuộc biểu tình, xung đột của các phe “Áo vàng” (PAD) và “Áo đỏ” (UDD) làm cho Thái Lan lâm vào khủng hoảng chính trị, bốn lần thay đổi chính phủ; quân đội đã tham gia trấn áp những người biểu tình ủng hộ Thaksin. Trong bầu cử tháng 7-2011, tướng Prayut Chanocha - Tổng Tham mưu trưởng liên quân tuyên bố quân đội không can thiệp vào chính trị, song lại hậu thuẫn đắc lực cho Đảng Dân chủ của cựu Thủ tướng Abhisit.
Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá độc lập dân tộc và CNXH, các thế lực thù địch ra sức truyền bá quan điểm “phi chính trị hóa quân đội”, về thực chất là lôi kéo quân đội xa rời hệ tư tưởng XHCN và lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, làm cho quân đội bị tha hóa, biến chất về chính trị và bị vô hiệu hóa, đồng thời làm cho Đảng, Nhà nước và nhân dân mất chỗ dựa vững chắc để bảo vệ Tổ quốc. Sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng về chiến lược và phải trả ngay những giá rất đắt nếu ngộ nhận, mất cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm “phi chính trị hóa quân đội”. Lịch sử thế giới đương đại cho chúng ta những bài học rất sâu sắc về vấn đề này. Vào những thập niên cuối thế kỷ XX, những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội Liên Xô đã rời bỏ nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nhất là xóa bỏ cơ chế lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội, làm cho quân đội bị “phi chính trị hóa” và bị vô hiệu hóa. Đó là nguyên nhân rất quan trọng dẫn tới sự sụp đổ và tan rã của Liên bang Xô-viết vào cuối năm 1991. Mặc dù lúc đó Quân đội Liên Xô còn 3,9 triệu quân thường trực, được trang bị rất hiện đại, vượt xa các nước cả về lực lượng chiến đấu thông thường và lực lượng hạt nhân chiến lược, nhưng do bị tha hóa, biến chất về chính trị nên mất sức chiến đấu, không thể bảo vệ được Tổ quốc XHCN.
Quân đội nhân dân Việt Nam là một quân đội kiểu mới do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân đồng thời có tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, là lực lượng chính trị - lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, của Tổ quốc XHCN và nhân dân. Bản chất quân đội kiểu mới thể hiện rõ nét ở sự thống nhất hữu cơ tính đảng, tính giai cấp, tính nhân dân và tính dân tộc, được biểu hiện sinh động ở lý tưởng chiến đấu, cơ sở chính trị-xã hội, cơ chế lãnh đạo, chỉ huy và chức năng, nhiệm vụ của quân đội.
Lý tưởng chiến đấu của quân đội ta là vì độc lập dân tộc và CNXH, vì hạnh phúc của nhân dân. Đó là lý tưởng chính trị-đạo đức không chỉ mang tính cách mạng và khoa học, mà còn thấm đượm tính nhân văn sâu sắc; không chỉ phản ánh sự vận động, phát triển đúng quy luật của xã hội Việt Nam đương đại, mà còn phản ánh khát vọng thiêng liêng tự giải phóng, giành quyền Độc lập - Tự do - Hạnh phúc và vươn lên làm chủ của các thế hệ người Việt Nam xuyên suốt hành trình lịch sử dân tộc. Lý tưởng chiến đấu đó thể hiện tình cảm sâu nặng và trách nhiệm chính trị-đạo đức cao của quân đội đối với Đảng, với Tổ quốc XHCN và nhân dân.
Cơ sở chính trị-xã hội của quân đội ta là phong trào cách mạng của nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và gắn bó máu thịt với nhân dân. Quân đội được xây dựng trên nền tảng vũ trang toàn dân và làm nòng cốt cùng toàn dân tiến hành đấu tranh vũ trang, thực sự là quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Từ nhân dân mà ra, các thế hệ Bộ đội Cụ Hồ đều được tuyển chọn từ con em các tầng lớp nhân dân lao động. Quá trình trưởng thành của mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội có những đặc điểm riêng, song đều có cái chung là sự lãnh đạo và giáo dục của Đảng, sự tôi luyện trong tổ chức quân sự và hoạt động quân sự, được nhân dân hết lòng nuôi dưỡng, giáo dục và rèn luyện.
Quân đội ta do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt thông qua hệ thống tổ chức đảng, hệ thống tổ chức chỉ huy, hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp và các tổ chức quần chúng ở đơn vị cơ sở. Nhà nước thống nhất quản lý đối với quân đội theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Các tổ chức đảng trong quân đội hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, phân công cá nhân phụ trách theo chức trách, nhiệm vụ. Trên cơ sở bảo đảm sự lãnh đạo vững chắc, toàn diện, xuyên suốt của các tổ chức đảng, trong quân đội thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên.
Các chức năng, nhiệm vụ của quân đội ta có ý nghĩa chính trị-xã hội sâu rộng. Trong chiến đấu, quân đội ta thực hiện xuất sắc vai trò nòng cốt cùng toàn dân đánh giặc, hỗ trợ tích cực cho đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang của quần chúng, chiến đấu ngoan cường và dũng cảm để giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, xả thân hy sinh để giải phóng và bảo vệ nhân dân. Trong lao động sản xuất, quân đội ta tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng - an ninh, xung kích đến những vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn gian khổ để xây dựng những khu kinh tế - quốc phòng, những công trình có ý nghĩa chiến lược của đất nước. Trong thực hiện chức năng đội quân công tác, quân đội ta luôn đồng cam cộng khổ cùng nhân dân, tích cực vận động và giúp dân xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần quan trọng xây dựng hệ thống chính trị và đời sống văn hóa ở cơ sở, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân; luôn xung kích đi đầu trong cứu hộ, cứu nạn, hết lòng giúp nhân dân phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, xả thân trong hiểm nguy để cứu tính mạng và tài sản của nhân dân. Có thể nói, tính chính trị và tính nhân văn gắn kết thống nhất trong bản chất và truyền thống của quân đội ta, không thể phủ nhận.
Thực tiễn cho thấy quan điểm “phi chính trị hóa quân đội” đưa ra không chỉ do phương pháp nhận thức mang tính tư biện, suy diễn một cách chủ quan, phiến diện; mà còn xuất phát từ những toan tính cơ hội, thực dụng, ngộ nhận lầm tưởng mình là “người có tài, am hiểu thời, thế”, lại thêm những bức xúc cá nhân do quá đề cao “cái tôi” nên cố tình tráo trở phương pháp, xuyên tạc tình hình, “chọc gậy bánh xe”. Chúng ta không thể chấp nhận quan điểm đó, bởi đó sẽ là nguyên nhân làm suy yếu sức mạnh chiến đấu của quân đội, dẫn đến mất ổn định chính trị-xã hội và đưa đất nước lâm vào khủng hoảng chính trị.

Theo QĐND - THUÝ AN, THUỲ LINH
Read more…

Tích cực, chủ động đấu tranh chống âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận

2:32 PM |

Cuộc đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn "Diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận ở nước ta hiện nay đang diễn ra hết sức quyết liệt và phức tạp. Các thế lực thù địch đã và đang sử dụng nhiều lực lượng, phương tiện, tung ra nhiều luận điểm phản động, nguy hiểm, hòng phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, làm cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta dao động, mất phương hướng về chính trị, mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên CNXH. Một trong những thủ đoạn nguy hiểm đó của chúng là mưu toan "phi chính trị hóa" quân đội ta.

GS Bùi Phan Kỳ: Lực lượng vũ trang ngày nay không chỉ còn nhiệm vụ trên mặt trận như thời chiến

 Mục tiêu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch không có gì khác là làm cho quân đội ta dần dần biến chất, từ quân đội của nhân dân, mang bản chất của giai cấp công nhân, trở thành một đội quân phản bội lại lợi ích của Đảng, của nhân dân, phụng thờ và bảo vệ cho lợi ích của các tầng lớp, giai cấp bóc lột. Để thực hiện mục tiêu đó, chúng tập trung phủ nhận học thuyết Mác - Lê-nin về giai cấp và đấu tranh giai cấp, xuyên tạc tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng về quân sự, quốc phòng, an ninh, về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; tung ra các luận điệu lừa bịp về bản chất của quân đội ta. Chúng rêu rao: “quân đội phải là một lực lượng trung lập”; rằng: “quân đội phải đứng ngoài chính trị”. Tuy nhiên, thực tiễn khẳng định rằng: không có một quân đội nào "đứng ngoài chính trị", là "trung lập". Nghiên cứu quân đội các nước tư bản đều cho thấy, giai cấp tư sản không hề coi nhẹ, trái lại, rất coi trọng xây dựng nhân tố chính trị. Vấn đề này, ngay từ năm 1905, khi nói về “Quân đội và cách mạng”, V.I. Lê-nin đã bóc trần luận điệu lừa bịp đó của giai cấp tư sản: “Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân, giả nghĩa của giai cấp tư sản... Bọn này trong thực tế bao giờ cũng lôi kéo quân đội vào chính trị phản động”1; mà cái “chính trị phản động” đó là để bảo vệ quyền lợi và sự thống trị của giai cấp tư sản... Đối với chúng ta, trong xây dựng quân đội kiểu mới - quân đội cách mạng, bao giờ Đảng ta cũng khẳng định rõ bản chất giai cấp, mục tiêu chính trị, mục tiêu chiến đấu của quân đội. Và trong suốt hơn 65 năm qua, quân đội ta luôn thể hiện rõ bản chất, truyền thống tốt đẹp của mình, đó là: Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì CNXH, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.
Có thể thấy, âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch không tách rời với âm mưu, thủ đoạn hòng “phi chính trị hóa” các lĩnh vực khác của đời sống xã hội; trong đó, nguy hiểm và thâm độc nhất là luận điệu phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chúng thường rêu rao: "Độc đảng là độc quyền, độc tài", là "thủ tiêu dân chủ"; rằng: "Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng lãnh đạo đất nước"; rằng: cần phải "bỏ Điều 4 của Hiến pháp" quy định về sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội; qua đó, phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang nhân dân. Từ đó, chúng gieo rắc những quan điểm nguy hại như: Quân đội phải được “quốc gia hóa”, “trung lập hóa”,..., hòng làm tê liệt, vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội.
Trong tình hình hiện nay, lợi dụng chủ trương mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng, Nhà nước ta, lợi dụng các hình thức quan hệ, hợp tác về quốc phòng-an ninh giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc, bóp méo bản chất cách mạng tốt đẹp của quân đội ta, thực hiện âm mưu chống phá ta một cách toàn diện trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận quân sự. Trong đó, chúng đặc biệt đề cao về một “sức mạnh quân sự mới” - sức mạnh của vũ khí công nghệ cao, hòng tuyên truyền cho một quan điểm quân sự tư sản nguy hiểm: vũ khí, kỹ thuật là nhân tố quyết định thắng lợi trên chiến trường; để phủ nhận vai trò của nhân tố chính trị, tinh thần trong chiến tranh; gieo rắc tâm lý hoài nghi, làm giảm sút lòng tin của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân với đường lối, nghệ thuật quân sự của Đảng, với khả năng chiến đấu và chiến thắng của quân đội ta trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.
Cùng với những luận điệu đó, chúng còn triệt để lợi dụng những tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường, những biểu hiện tiêu cực, yếu kém trong xã hội ta để truyền bá tư tưởng dân chủ tư sản, lối sống thực dụng chủ nghĩa; tấn công, phá hoại trực tiếp vào tư tưởng, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ; bôi nhọ, làm mờ nhạt hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân, hòng làm xói mòn bản chất, truyền thống tốt đẹp của quân đội ta.
Để đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, toàn quân cần nhận thức, quán triệt đầy đủ những yêu cầu, nhiệm vụ của công tác tư tưởng, lý luận trong giai đoạn hiện nay, mà Nghị quyết Đại hội X của Đảng nêu rõ: “... đấu tranh khắc phục những biểu hiện phai nhạt lý tưởng, cơ hội, chạy theo lợi ích cá nhân; chủ động và kiên quyết phê phán những quan điểm sai trái, bác bỏ những luận điệu phản động, góp phần làm thất bại mọi mưu toan “diễn biến hoà bình”, bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch”2. Theo đó, yêu cầu cơ bản đặt ra đối với quân đội trong cuộc đấu tranh chống âm mưu “phi chính trị hóa” trên mặt trận tư tưởng, lý luận là:
- Tích cực, chủ động tiến công phản bác những quan điểm sai trái, phản động, góp phần bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam; xây dựng vững chắc nền tảng chính trị-tư tưởng của xã hội, của quân đội; bảo vệ và phát huy những giá trị truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc ta, quân đội ta.
 - Tích cực đấu tranh ngăn chặn sự xâm nhập của những tư tưởng, lối sống độc hại; đẩy lùi những biểu hiện suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức; chủ động phòng chống nguy cơ “tự diễn biến”; đồng thời, tích cực góp phần định hướng giá trị, xây dựng thế giới quan, niềm tin, lý tưởng, đạo đức cộng sản chủ nghĩa trong các tầng lớp nhân dân, nhất là với thế hệ trẻ, với cán bộ, chiến sĩ quân đội.
 - Xây dựng trận địa tư tưởng của Đảng vững chắc trong các đơn vị quân đội; nâng cao bản lĩnh chính trị của cán bộ, chiến sĩ, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, luôn xứng đáng là lực lượng chính trị - lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, làm thất bại âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội và chiến lược “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch.
Từ những yêu cầu, nhiệm vụ trên, cần khẳng định rõ vị trí, vai trò và trách nhiệm của quân đội trong cuộc đấu tranh chống âm mưu "phi chính hóa" trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Theo đó, công tác tư tưởng, lý luận cần phải làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ thống nhất nhận thức: đấu tranh tư tưởng, lý luận là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên và cấp thiết của quân đội, đồng thời cũng là một yêu cầu thuộc về chức năng, nhiệm vụ của quân đội trong thời kỳ mới. Cán bộ, chiến sĩ quân đội cần phải nhận thức đúng đắn, đầy đủ, khoa học, khách quan về âm mưu, phương thức, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội, hoạt động chống phá ta trên mặt trận tư tưởng, lý luận của các thế lực thù địch, nhất là bộ mặt thật của những phần tử cơ hội về chính trị; khắc phục những biểu hiện chủ quan, mơ hồ, mất cảnh giác. Đồng thời, phải thấy rõ tính chất quyết liệt, phức tạp của cuộc đấu tranh trên mặt trận không tiếng súng này; từ đó, tích cực đấu tranh có hiệu quả với mọi luận điệu thù địch, sai trái; khắc phục những biểu hiện né tránh hoặc thoả hiệp về tư tưởng, lý luận.
Để nâng cao hiệu quả thực hiện những yêu cầu, nhiệm vụ công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới, các đơn vị quân đội cần chú trọng tổ chức, động viên các lực lượng tham gia đấu tranh tư tưởng, lý luận và xây dựng vững chắc "thế trận tư tưởng" trong quân đội một cách sâu rộng; qua đó, làm thất bại âm mưu "phi chính hóa" của các thế lực thù địch một cách chủ động và có hiệu quả.
Trước hết, phải chú trọng xây dựng và phát huy vai trò của cấp ủy, của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp; trong đó, chú trọng việc lãnh đạo thực hiện nghiêm túc chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong quân đội; gắn chặt việc xây dựng đội ngũ đảng viên với xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng cấp ủy với xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì, để tạo thành lực lượng nòng cốt, nền tảng vững chắc trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức đấu tranh chống lại các quan điểm phản động, sai trái, âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch; khắc phục những nhận thức lệch lạc trong cán bộ, chiến sĩ.
Hai là, tập trung xây dựng các tổ chức đảng trong mỗi đơn vị vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự là pháo đài vững chắc về tư tưởng, lý luận; đội ngũ cán bộ, đảng viên trở thành lực lượng kiên trung về bản lĩnh, lập trường và là lực lượng chủ công trong cuộc đấu tranh trên mặt trận này.  Để làm tốt điều đó, các cấp cần hết sức coi trọng đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị-tư tưởng trong tổ chức đảng cũng như toàn đơn vị; tăng cường công tác quản lý cán bộ, đảng viên; thực hiện tốt công tác cán bộ và công tác bảo vệ chính trị nội bộ; xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, làm nòng cốt để xây dựng các tổ chức khác trong sạch, vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện; tạo ra môi trường đủ sức "miễn dịch" đối với những luận điệu tuyên truyền, chống phá của các thế lực thù địch. Cùng với công tác giáo dục, tuyên truyền, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp cần đề cao trách nhiệm, động viên cán bộ, chiến sĩ, trước hết là đội ngũ sĩ quan, đảng viên có thái độ phê phán, đấu tranh kiên quyết, thẳng thắn với những nhận thức, tư tưởng lệch lạc nảy sinh trong nội bộ đơn vị; đồng thời, tích cực, chủ động tham gia viết bài, đưa tin đấu tranh về tư tưởng, lý luận đối với âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội trên các phương tiện thông tin đại chúng và thông tin nội bộ.
Ba là, từng đơn vị phải chú ý triển khai sâu rộng nhiệm vụ xây dựng đạo đức cách mạng cho mọi đối tượng, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, đảng viên. Theo đó, cần chú trọng xây dựng và thực hiện các chuẩn mực đạo đức quân nhân cách mạng; có những quy định về đạo đức phù hợp với từng đối tượng và có quy chế giám sát về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; tích cực giáo dục, truyền bá rộng rãi những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, những giá trị mới của con người Việt Nam, phẩm chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”; đồng thời, đấu tranh chống mọi biểu hiện lai căng, bắt chước, lệ thuộc nước ngoài; chống lại sự xâm nhập, ảnh hưởng từ bên ngoài của văn hóa đạo đức, lối sống xấu độc, thấp hèn. Từ kết quả thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, tiếp tục tạo ra những chuyển biến vững chắc trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện và cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, chống suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.
Bốn là, các nhà trường, viện nghiên cứu, cơ quan tham mưu chiến lược, cơ quan báo chí của quân đội cần nhận thức đầy đủ hơn nữa trách nhiệm của mình trong việc tổ chức đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận một cách bài bản và có hiệu quả. Cần thấy rằng, cuộc chiến đấu trên mặt trận "không khói súng" này không hề đơn giản; nó đòi hỏi lãnh đạo, chỉ huy các nhà trường, viện nghiên cứu,... phải xây dựng được kế hoạch, tổ chức được lực lượng đủ mạnh, bao gồm những cán bộ nghiên cứu có trình độ lý luận cao và nhiều kinh nghiệm thực tiễn; những cây viết có sự am hiểu, nhạy bén, sắc sảo, khả năng "tác chiến" giỏi, vừa đủ minh mẫn, đủ kiên trì đấu tranh với mọi âm mưu, thủ đoạn của chúng, vừa phản ứng nhanh, nhạy, chính xác trước những vấn đề có tính thời sự, bất thường, nhạy cảm...
Cuộc đấu tranh chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội trên mặt trận tư tưởng, lý luận đang tiếp tục diễn ra hết sức phức tạp. Song, với bản lĩnh chính trị đã được trau dồi, hun đúc vững vàng trong hơn 65 năm xây dựng và chiến đấu, quân đội ta nhất định sẽ làm tròn trọng trách của mình trên mặt trận tư tưởng, lý luận, làm thất bại âm mưu “phi chính hóa” quân đội của các thế lực thù địch, xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng và chế độ XHCN ở nước ta hiện nay.

Đại tá, PGS. TS ĐẶNG ĐỨC THẮNG 
Read more…

Làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” Những góp ý không phù hợp với thực tiễn Việt Nam

2:22 PM |

Nhân dịp Đảng, Nhà nước ta tổ chức lấy ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các tầng lớp nhân dân vào việc sửa đổi Hiến pháp 1992, trên một số tờ báo điện tử tiếng Việt ở nước ngoài xuất hiện ý kiến cho rằng, Việt Nam nên xây dựng nhà nước “tam quyền phân lập” theo mô hình phương Tây thì mới tránh được tình trạng “lạm quyền do chế độ độc đảng không có sự cạnh tranh và giám sát tự thân”. Thậm chí, có người còn cho rằng “không thực hiện nhà nước “tam quyền phân lập” là quay lưng lại với văn minh”(!) 

Mô hình nhà nước “tam quyền phân lập” ra đời gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản chống lại chế độ phong kiến, là bước tiến bộ so với chế độ quân chủ phong kiến. Nó trở thành nguyên tắc cơ bản để tổ chức hoạt động của nhà nước tư sản, gắn liền với nó là chế độ chính trị đa đảng. Tuy nhiên, thực tiễn tồn tại mấy trăm năm qua của mô hình này cũng đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế. 
Tổ chức bộ máy nhà nước như thế nào để nhà nước thực sự là của dân, do dân và vì dân - đó là vấn đề được Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặt lên hàng đầu, là vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay.
 Như chúng ta đều biết, sau bao đêm trường nô lệ, trong Cách mạng Tháng Tám 1945, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã giành lại quyền làm chủ đất nước. Điều này quyết định một đặc điểm lớn trong quá trình xây dựng Nhà nước của nhân dân ta là ngay từ khi ra đời, Nhà nước ta đã mang bản chất giai cấp công nhân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Ngày 3-9-1945, ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu nhiệm vụ cấp bách: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ”.
67 năm qua, trong quá trình xây dựng nhà nước, Quốc hội nước ta lần lượt ban hành 4 bản hiến pháp vào các năm 1946, 1959, 1980 và 1992. Cả 4 bản Hiến pháp nói trên đều khẳng định quan điểm nhất quán: “Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, là quyền lực thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”.
Tại Đại hội XI của Đảng, tiếp thu ý kiến góp ý của nhân dân, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta nhấn mạnh chủ trương xây dựng “Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo”. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng khác xa với nhà nước pháp quyền tư sản. Đại hội XI đã khẳng định: Nhà nước pháp quyền tư sản dựa trên nguyên tắc “tam quyền phân lập”, tức là phân chia quyền lực, còn nhà nước pháp quyền XHCN mà nhân dân ta xây dựng không phân chia quyền lực, mà có sự “phân công”, “phối hợp” và “kiểm soát” trong thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Điều này sẽ bảo đảm cho chúng ta kế thừa những mặt tích cực, khắc phục mặt hạn chế của nhà nước “tam quyền phân lập”.   
Vì vậy, những ý kiến “khuyên” nhân dân Việt Nam nên xây dựng nhà nước “tam quyền phân lập” thực chất là kích động tư tưởng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; xóa bỏ vai trò Đảng lãnh đạo Nhà nước đã được xác định tại Điều 4 của Hiến pháp năm 1992.
Trong bài viết này, chúng tôi xét thấy không cần phải nhắc lại một thực tế là lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước kể từ năm 1945 đến nay đã thừa nhận vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với nhà nước và xã hội. Giai đoạn 1945-1946, vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam được nhân dân thừa nhận và xác lập ngay trong điều kiện nước ta có nhiều đảng phái cùng hoạt động. Vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng ta đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN không phải là ý chí chủ quan của Đảng mà là kết quả đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam. Đây là một tất yếu khách quan. Mọi mưu toan hạ thấp vai trò của Đảng đều trái với quy luật tự nhiên của lịch sử dân tộc, đi ngược lại nguyện vọng chính đáng của tuyệt đại bộ phận nhân dân Việt Nam.
Để nhìn rõ tính khách quan của vấn đề này, chúng tôi xin giới thiệu kết quả nghiên cứu khoa học của Viện Phát triển quốc tế Ha-vớt (Harvard) thuộc Trường Đại học Ha-vớt (Hoa Kỳ) khi họ khảo sát ở Việt Nam. Nhà nghiên cứu Dam Fforde đánh giá: “Việt Nam có được những lợi thế chính trị quan trọng. Lên nắm quyền qua chiến tranh và cách mạng chứ không phải do lực lượng bên ngoài áp đặt, năm 1975, Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu một hệ thống chính trị nhất thể với một quyền lực và tính hợp pháp không bị ai thách thức. Sau ba thập kỷ đấu tranh, Đảng đã loại mọi đối thủ và khôi phục Việt Nam thành một nước độc lập và thống nhất. Ban lãnh đạo của Đảng nằm trong số ổn định và thật sự nhất trí trong thế giới cộng sản, và đảng viên của Đảng bao gồm một phần lớn những người tận tụy và yêu nước nhất ở Việt Nam. Hơn nữa, đó là một đảng mà sự tồn vong và thắng lợi cuối cùng đã dựa vào việc huy động sự ủng hộ của quần chúng”*.
Đương nhiên, Đảng ta cũng nhìn rõ những thách thức có thể gặp phải khi là Đảng duy nhất cầm quyền. Một vấn đề khách quan là bất kỳ đảng cầm quyền nào, không kể là đảng tư sản hay đảng cộng sản, đều có thể bị tha hóa bởi vấn nạn lạm quyền và quan liêu hóa. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) đã nhìn thẳng vào sự thật, không che giấu những khuyết điểm, hạn chế của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo Nhà nước. Từ đầu năm đến nay, chúng ta đã nhận rõ sự quan tâm, vui mừng, ủng hộ của đông đảo các tầng lớp nhân dân khi Đảng ta quyết tâm tiến hành những giải pháp cấp bách và cơ bản nhằm xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Nhiều hành động quyết liệt, công khai, minh bạch của Chính phủ, các bộ, ngành đã thể hiện quyết tâm chính trị lớn lao đẩy mạnh chống tiêu cực, chống tham nhũng, tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính, làm cho bộ máy Nhà nước ta ngày càng tinh gọn, từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN.
Đó là thông điệp rõ ràng, báo hiệu Đảng, Nhà nước ta đã chuyển mình mạnh mẽ, sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ lịch sử mà nhân dân giao phó, hoạt động vì quyền lực và lợi ích của nhân dân, vì một nền dân chủ rộng rãi cho mọi người. Những ý kiến cho rằng, Việt Nam cần thực hiện “tam quyền phân lập” mà thực chất là đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập là những lời góp ý xa lạ với thực tiễn Việt Nam, trái với ý chí và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam.
Theo QĐND - HỒNG HẢI
Read more…

Tên nước mang màu sắc chính trị và giai cấp?

3:00 PM |
Tên nước không những có nguồn gốc lịch sử, văn hóa mà còn phản ánh tương quan lực lượng của đấu tranh chính trị, đấu tranh giai cấp.


        Trong giai đoạn xã hội phong kiến các quốc gia, chính thể được hình thành chỉ có tính chất dân tộc, lãnh địa, lãnh chúa, quân chủ mà không đại diện về mặt chính trị cho một giai cấp nào. Vì vậy tên gọi một quốc gia với tư cách là một nhà nước chính thể chính trị đại diện cho dân tộc chỉ được hình thành sau cuộc Cách mạng tư sản. Có thể khẳng định điều đó là vì khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời, phá vỡ nền kinh tế tự cung, tự cấp, lãnh địa hình thành kinh tế thị trường. Nhằm xây dựng phương thức sản xuất mới giai cấp tư sản tiến hành cuộc cách mạng đấu tranh giành quyền lực với giai cấp địa chủ. Bước ngoặt cách mạng này tạo nên quá trình hình thành dân tộc, thông qua sự chuyển hóa cơ cấu giai cấp, phân chia lãnh thổ, lợi ích kinh tế, kết hợp sự giao lưu văn hóa, truyền thống giữa các cộng đồng người tạo nên chính thể. Hầu hết các nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa hiện nay đều lấy các tên gọi gắn với cụm từ “cộng hòa”, “dân chủ”… Điều này phản ánh rất rõ tương quan lực lượng trong cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp tư sản đối với giai cấp địa chủ, phong kiến và kết quả của cuộc đấu tranh đó là thắng lợi thuộc về giai cấp tư sản. Thể chế chính trị “cộng hòa”,”dân chủ” thuộc bản chất của chế độ tư bản trong sự đối lập với bản chất “chuyên chế”,”độc tài” của chế độ phong kiến. Tất nhiên “dân chủ” ở đây là dân chủ tư sản.
       Ở một số nước, trong cuộc đấu tranh chính trị giữa giai cấp phong kiến và giai cấp tư sản, mặc dù về cơ bản thắng lợi thuộc về giai cấp tư sản, nhưng tương quan lực lượng thực tế lúc lập chế độ tư sản đã dẫn đến chế độ quân chủ lập hiến, do đó, tên nước thường có gắn với từ “vương quốc” như “Vương quốc Anh”, “Vương quốc Thái Lan”…

Lê Minh
Read more…

Phòng, chống khuynh hướng "phi chính trị hóa" trong Quân đội

2:44 PM |

"Phi chính trị hóa Quân đội" là âm mưu và thủ đoạn chính trị trong chiến lược "diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực chống chủ nghĩa xã hội, nhằm tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản, đối lập Quân đội với Ðảng và nhân dân, tiến tới vô hiệu hóa Quân đội và cao hơn nữa là sử dụng Quân đội vào mục đích lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa.
 Ðể nâng cao hiệu quả phòng, chống khuynh hướng "phi chính trị hóa" trong Quân đội nhân dân Việt Nam, cần tập trung vào các giải pháp chủ yếu sau:
1. Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với Quân đội, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong Quân đội
Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với Quân đội là một nguyên tắc tiên quyết, là vấn đề then chốt nhất, để bảo đảm thực hiện thắng lợi nguyên tắc trên phải xây dựng Ðảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, thống nhất cao và có sức mạnh chiến đấu tổng hợp. Muốn vậy, phải thường xuyên chăm lo xây dựng các tổ chức đảng trong Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức; chống sự suy thoái về phẩm chất, đạo đức, lối sống, những biểu hiện lệch lạc về chính trị; ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, hành động hạ thấp vai trò lãnh đạo của Ðảng đối với Quân đội. Hơn lúc nào hết, Ðảng bộ Quân đội, các tổ chức đảng trong Quân đội phải tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo cho ngang tầm nhiệm vụ trước những biến đổi trong nước, khu vực và thế giới. Phải nâng cao trình độ, năng lực và hiệu quả lãnh đạo toàn diện, nhất là trình độ trí tuệ, trình độ lý luận..., nâng cao sức chiến đấu, phẩm chất, năng lực, vai trò tiên phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên.
Trong điều kiện hiện nay, để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với Quân đội, trước hết phải thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết 51 của Bộ Chính trị (khóa X) về tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Ðảng thực hiện chế độ một người chỉ huy, gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Ðồng thời, quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Ðảng hiện nay"; phải không ngừng chăm lo xây dựng các tổ chức đảng các cấp trong Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực, suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; tiếp tục quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện tốt việc Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nhất là làm theo Bác. Qua đó, xây dựng tổ chức đảng các cấp trong Quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, lãnh đạo đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống.
Mặt khác, cần phát triển và vận hành thống nhất, đồng bộ, có hiệu quả các yếu tố hợp thành cơ chế lãnh đạo của Ðảng đối với Quân đội. Ðảng thực hiện sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội thông qua hệ thống tổ chức đảng, hệ thống chỉ huy, hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp và các tổ chức quần chúng ở cơ sở. Do đó, cần tăng cường bồi dưỡng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, chú trọng cấp ủy đảng ở cơ sở và cơ quan tham mưu chiến dịch, chiến lược; tập trung nâng cao năng lực quán triệt, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nghị quyết, chất lượng sinh hoạt của cấp ủy, chi bộ.
Trong cơ chế lãnh đạo của Ðảng đối với Quân đội, hệ thống cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị là lực lượng nòng cốt tiến hành công tác đảng, công tác chính trị. Do đó, cần nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị, nhất là đội ngũ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội thật sự tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực trí tuệ, tính tiền phong gương mẫu, năng lực tư duy lý luận và trình độ tổ chức hoạt động thực tiễn, nắm vững và thực hiện tốt các nguyên tắc, nội dung, chế độ công tác và quy trình, phương pháp tiến hành công tác đảng, công tác chính trị...
2. Tăng cường nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn, vạch trần và chống lại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng làm Quân đội ta "tự diễn biến" theo khuynh hướng "phi chính trị hóa"
Nhà nước và Quân đội đều là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp, nên không hề có nhà nước và quân đội "phi chính trị", đứng ngoài chính trị, "trung lập về chính trị". Mọi toan tính muốn xóa nhòa mặt chính trị của Quân đội đều bắt nguồn từ đường lối chính trị của giai cấp phản động, hòng che giấu vấn đề cốt lõi nhất của Quân đội trong những điều kiện mới và hoàn cảnh mới.

Quân đội xuất hiện và tồn tại gắn liền với chính trị, bị chi phối bởi chính trị, là công cụ thực hiện mục tiêu chính trị ấy. Mọi mặt hoạt động của Quân đội đều bị quy định bởi chính trị và phụ thuộc vào chính trị. Chính trị quy định bản chất, chức năng, nhiệm vụ, các mối quan hệ cơ bản của Quân đội như quan hệ với giai cấp, với chế độ xã hội, với nhân dân, dân tộc. Quân đội bao giờ cũng gắn chặt với giai cấp, nhà nước đã sinh ra nó, mang bản chất giai cấp sâu sắc. Không và không thể có quân đội "phi giai cấp" hoặc "siêu giai cấp", quân đội "phi chính trị" hoặc "đứng ngoài chính trị".
Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời từ các phong trào đấu tranh của quần chúng, được Ðảng Cộng sản Việt Namtổ chức, lãnh đạo. Vì vậy, Quân đội không có mục tiêu chiến đấu nào khác là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội để đem lại cuộc sống hạnh phúc, ấm no cho nhân dân. Ðó cũng là mục tiêu chính trị của Ðảng Cộng sản Việt Nam. Quân đội ta không chỉ mang bản chất giai cấp công nhân mà còn mang đầy đủ tính nhân dân sâu sắc và dân tộc chân chính. Là Quân đội cách mạng kiểu mới, Quân đội ta không là một công cụ bạo lực "phi chính trị", đứng ngoài cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Lịch sử gần 68 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta đã chứng minh rất rõ điều đó và nay không có lý do gì phải thay đổi. Ðối lập với luận điệu "quân đội cần phi chính trị", chúng ta càng phải đẩy mạnh xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nền tảng để xây dựng vững mạnh toàn diện. Ðó là sự bảo đảm vững chắc để Quân đội ta không đi chệch mục tiêu chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân.
Trong cuộc đấu tranh vạch trần sự dối trá, lừa bịp và ngụy biện trong khẩu hiệu "Quân đội cần đứng ngoài chính trị" của các thế lực thù địch, phải huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, phải gắn chặt với việc nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng cho mọi tầng lớp nhân dân; nâng cao trách nhiệm trong việc tham gia tuyển chọn và cử công dân đủ tiêu chuẩn chính trị nhập ngũ, thực hiện nghĩa vụ quân sự. Cấp ủy và chính quyền các địa phương cần quán triệt sâu sắc hơn cơ chế lãnh đạo của Ðảng, chức năng quản lý và tổ chức thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng của mình, cùng chức năng của Quân đội để khi cần thiết huy động lực lượng Quân đội tham gia giải quyết các vấn đề nảy sinh trên địa bàn, phải tuân thủ quy định của Nhà nước và của Bộ Quốc phòng, tránh huy động, sử dụng tùy tiện, sai nguyên tắc, nhất là vào những công việc không đúng chức năng, dễ làm giảm uy tín  và vị thế của Quân đội.

3. Tăng cường xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị
Xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, về thực chất là xây dựng bản chất giai cấp công nhân, bản chất của quân đội cho phù hợp sự phát triển của tình hình, nhiệm vụ; lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động.
Vấn đề cốt lõi trong xây dựng quân đội về chính trị là củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc. Bản chất cách mạng của Quân đội ta không tự phát hình thành, phát triển, mà phải trải qua quá trình chủ động tích cực giáo dục, rèn luyện về chính trị, tư tưởng và xây dựng về tổ chức. Ðó cũng là quá trình giải quyết đúng đắn các quan hệ xã hội mà trong đó Quân đội khẳng định vai trò, chức năng và giá trị xã hội của mình. Trong đó, các mối quan hệ với Ðảng, với nhân dân, quan hệ nội bộ, quan hệ quốc tế... là những mối quan hệ cơ bản nhất, quyết định sự tồn tại, trưởng thành của Quân đội ta. Ðó cũng là quá trình xây dựng nền tảng chính trị của Quân đội, bao gồm nền tảng giai cấp - xã hội, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế, góp phần đắc lực vào sự vững mạnh của hệ thống chính trị xã hội và sự ổn định chính trị xã hội.
Xây dựng Quân đội về chính trị trong giai đoạn cách mạng hiện nay phải đạt tới năng lực và hiệu lực chính trị thực tiễn cao trong đời sống chính trị của đất nước và được thể hiện ở việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, quân sự của Quân đội. Trong đó, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chấp hành nghiêm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và phát triển đất nước phải được nhận thức và thực hiện nhất quán trong toàn quân; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc, tiềm lực quốc phòng - an ninh của đất nước ngày càng được tăng cường; chất lượng tổng hợp, trình độ chính quy, sức mạnh và khả năng chiến đấu của Quân đội phải tiếp tục được nâng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Xây dựng Quân đội về chính trị đòi hỏi sự nỗ lực, sự kiên định và bền bỉ rất cao của toàn Ðảng, toàn quân, của cả hệ thống chính trị và bản thân Quân đội. Vì thế, các cấp, các ngành cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, không mất cảnh giác với những thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch trong âm mưu hạ thấp vai trò và vị thế của Quân đội; phối hợp chặt chẽ với các đơn vị Quân đội đóng quân trên địa bàn để chăm lo xây dựng Quân đội, củng cố và tăng cường sức mạnh đoàn kết quân dân, góp phần giữ gìn và phát huy hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong xã hội.
Chống âm mưu "phi chính trị hóa" Quân đội và tăng cường xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị là hai mặt của quá trình xây dựng Quân đội theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Từ đó đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ các giải pháp chính trị, tư tưởng và tổ chức, mà then chốt là xây dựng Ðảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, làm cơ sở cho Quân đội hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.
4. Thường xuyên đổi mới, nhạy bén, sáng tạo trong vận dụng các nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục chính trị - tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ.
Hiệu quả và chất lượng giáo dục chính trị - tư tưởng hiện nay, trước hết được đánh giá ở vai trò của giáo dục trong củng cố lòng tin vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tin tưởng tuyệt đối vào chủ trương, đường lối, chính sách của Ðảng và Nhà nước trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước; khẳng định vai trò quyết định sự trưởng thành và chiến đấu của Quân đội là sự lãnh đạo của Ðảng. Mặt khác, do tính đa dạng của đối tượng giáo dục và sự phá hoại về tư tưởng rất tinh vi của các thế lực thù địch nên phải sử dụng đồng bộ các nội dung, phương pháp để tác động hiệu quả vào đối tượng được giáo dục.
Trong tình hình hiện nay, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, cấp ủy đảng các cấp thường xuyên đổi mới và không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị - tư tưởng, giáo dục tình hình, nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ Quân đội. Các đơn vị trong toàn quân tiếp tục triển khai chương trình hành động của Ðảng ủy Quân sự Trung ương thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí. Theo đó, công tác thông tin, tuyên truyền, báo chí, xuất bản... phải luôn bám sát nhiệm vụ của cách mạng, của Quân đội, bảo đảm đúng định hướng chính trị, đúng quan điểm, đường lối của Ðảng. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ cần được tổ chức thường xuyên, sát thực tiễn hoạt động của bộ đội.
Muốn làm được điều đó cần tăng cường và đề cao vai trò tham mưu, hướng dẫn của cơ quan chính trị, sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong xây dựng kế hoạch và tổ chức tiến hành công tác giáo dục. Trong thực hành giáo dục chính trị - tư tưởng cần khắc phục các hiện tượng bất cập như nội dung còn chung chung, dàn trải, chưa bám sát tình hình nhiệm vụ, đối tượng giáo dục; hình thức, phương pháp chưa phong phú, sinh động, thiếu nhạy bén, kịp thời. Cần coi trọng xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh ở các đơn vị Quân đội nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của các tư tưởng văn hóa xấu, độc thẩm thấu vào Quân đội. Các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần phối hợp chặt chẽ chính quyền địa phương và nhân dân không để cho các thế lực thù địch có cơ hội lợi dụng truyền bá các ấn phẩm văn hóa xấu, độc vào Quân đội; tiếp tục xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp, tổ chức tốt hoạt động văn hóa, vui chơi, giải trí lành mạnh trong ngày nghỉ, giờ nghỉ để thu hút cán bộ, chiến sĩ, tạo những chuyển biến tích cực trong đời sống văn hóa - tinh thần, khắc phục các biểu hiện tiêu cực trong đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ, góp phần phát huy những phẩm chất tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới. Làm tốt những nội dung trên cũng có nghĩa là chủ động tiến công trên mặt trận tư tưởng, lý luận, làm thất bại chiến lược diễn biến hòa bình và "phi chính trị hóa" quân đội của các thế lực thù địch; tiếp tục chỉ đạo, tổ chức quán triệt, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Ðảng hiện nay" ở tất cả các cấp chặt chẽ, theo đúng kế hoạch, đạt chất lượng, hiệu quả và mục đích, yêu cầu đề ra.

Trung tướng, TS VÕ TIẾN TRUNG
Read more…

Tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân – vấn đề có tính nguyên tắc và là bản chất của Quân đội nhân dân Việt Nam

2:26 PM |

1. Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời từ các phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân, được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức xây dựng, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, nhằm bảo vệ lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội bằng bạo lực vũ trang. Quân đội ta không có mục tiêu chiến đấu nào khác là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội để đem lại tự do, bình đẳng và hạnh phúc cho nhân dân lao động. Đó cũng là mục tiêu chính trị cao cả của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quân đội ta không chỉ mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân mà còn mang đầy đủ tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. 
Tiếp thu học thuyết Mác - Lê-nin về xây dựng quân đội kiểu mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, Quân đội nhân dân Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân mà đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam. Quân đội nhân dân Việt Nam là công cụ bạo lực của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng thời sẵn sàng làm nhiệm vụ quốc tế cao cả. Từ quan điểm trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta không tiếp thu các đội quân của chế độ phong kiến để lại mà xây dựng quân đội nhân dân từ không đến có, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Đó là những đội tự vệ công nông đầu tiên trong cao trào cách mạng Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930-1931, những đội du kích hình thành từ các cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, Bắc Sơn… Ngày 22-12-1944, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và căn dặn “chính trị trọng hơn quân sự”, “tuyên truyền trọng hơn tác chiến”, “người trước, súng sau”... Ngày 22-12-1964, kỷ niệm 20 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, Người đã khen ngợi “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Đó là luận điểm khái quát nhất về bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam
Lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành trong gần 70 năm qua đã chứng minh, Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức xây dựng, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, luôn là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam, một quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. 
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, phải xây dựng toàn diện các yếu tố, trong đó đặc biệt coi trọng xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.
2. Gần đây, trong quá trình tham gia góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, có một số ý kiến khác nhau về quy định ở Điều 70 (sửa đổi, bổ sung điều 45) trong Dự thảo Hiến pháp về nội dung: “Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổ quốc và nhân dân,…”. Thậm chí, có ý kiến vì nhiều động cơ, mục đích không lành mạnh, đưa ra quan điểm “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, đòi quân đội đứng ngoài chính trị, trung lập về chính trị. Những người đưa ra quan điểm “phi chính trị hóa” quân đội thể hiện nhận thức “mơ hồ” về chính trị hoặc vì ý đồ cá nhân đã cố tình làm ngơ không hiểu bản chất giai cấp của quân đội nói chung, cũng như bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam có sự thống nhất giữa tính giai cấp, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. 
Thuật ngữ “phi chính trị hóa” quân đội được các thế lực thù địch chống phá chủ nghĩa xã hội đưa ra vào những năm 80 của thế kỷ XX với nội dung cơ bản là: Quân đội là một tổ chức quân sự, là công cụ bạo lực vũ trang của nhà nước, được tổ chức ra để bảo vệ lợi ích quốc gia nói chung, chỉ tuân theo Hiến pháp. Theo đó, quân đội trung lập về chính trị (không có quân đội xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa), đứng ngoài những biến động chính trị - xã hội, đứng ngoài cuộc đấu tranh của các đảng phái chính trị giành quyền kiểm soát các cơ quan quyền lực nhà nước. Vì thế, quân đội không chịu sự lãnh đạo của bất cứ đảng phái chính trị nào. 
“Phi chính trị hóa” quân đội thực chất là âm mưu, thủ đoạn chính trị nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá chủ nghĩa xã hội. Trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ra sức truyền bá quan điểm “phi chính trị hóa” quân đội, nhằm lôi kéo quân đội xa rời hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; làm cho quân đội bị tha hóa, biến chất về chính trị và bị vô hiệu hóa; làm cho Đảng Cộng sản, Nhà nước và nhân dân mất chỗ dựa vững chắc để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. 
Lịch sử đã để lại cho chúng ta những bài học sâu sắc về vấn đề này. Vào những năm cuối thế kỷ XX, những người lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô đã rời bỏ nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị của học thuyết Mác - Lê-nin, xóa bỏ cơ chế Đảng lãnh đạo quân đội, làm cho quân đội bị “phi chính trị hóa”, bị vô hiệu hóa. Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô. 
Hiện nay, với kinh nghiệm tác động, can dự vào đời sống chính trị và làm sụp đổ các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới trước đây và một số nước Bắc Phi - Trung Đông vừa qua, các thế lực thù địch đang ráo riết đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” hòng xóa bỏ hoàn toàn chủ nghĩa xã hội trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Để thực hiện mục tiêu đó, chúng coi quân đội là một đối tượng cần tập trung chống phá, đòi “phi chính trị hóa”, vô hiệu hóa quân đội, làm mất sức chiến đấu bảo vệ Đảng Cộng sản, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.
Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch đã và đang sử dụng mọi biện pháp để thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa”, như: Tuyên truyền phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin về giai cấp và đấu tranh giai cấp; xuyên tạc tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, đường lối quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam; phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt Quân đội nhân dân Việt Nam”; đòi xóa bỏ hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị, cùng với hệ thống cơ quan chính trị và cán bộ chính trị trong quân đội; xuyên tạc bản chất, truyền thống tốt đẹp Bộ đội cụ Hồ, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với quân đội…; với mục tiêu cao nhất là xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quân đội và cuối cùng là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
3. Lịch sử ra đời và phát triển của các quân đội trên thế giới cho thấy, quân đội là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp, mang bản chất giai cấp sâu sắc, không có quân đội phi giai cấp, siêu giai cấp, quân đội trung lập và càng không có quân đội chung chung. Quân đội mang bản chất của giai cấp tổ chức xây dựng, giáo dục, rèn luyện và sử dụng nó. Mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội là phục vụ cho mục tiêu, lý tưởng của giai cấp đã tổ chức ra nó. V.I.Lê-nin đã khẳng định: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị, đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ, giả nhân, giả nghĩa của giai cấp tư sản…”[1]. 
Thực tiễn trên thế giới cho thấy, quân đội của bất kỳ nước nào, trong quá trình xuất hiện và trưởng thành cũng luôn là một lực lượng chính trị quan trọng mà bất cứ nhà nước nào, giai cấp cầm quyền nào cũng phải nắm lấy để bảo vệ quyền lợi chính trị, quyền lợi kinh tế của mình. Hô hào quân đội các nước xã hội chủ nghĩa chỉ phục tùng Nhà nước, không phục tùng Đảng Cộng sản, về thực chất là tuyên truyền cho sự chuyển hóa lập trường chính trị của giai cấp công nhân sang lập trường chính trị của giai cấp tư sản, lôi kéo quân đội tham gia vào chính trị của giai cấp tư sản. Trên cơ sở đó, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong quân đội và trong xã hội, để khi có đủ điều kiện sẽ tiến hành lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa mà không cần đến chiến tranh.
4. Trước yêu cầu xây dựng quân đội ta vững mạnh về chính trị, chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, chúng ta cần thực hiện tốt một số nội dung chủ yếu sau đây:
Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, xây dựng các tổ chức đảng trong quân đội trong sạch, vững mạnh.
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam vừa là nguyên tắc cơ bản, vừa là quy luật trong việc xây dựng quân đội cách mạng của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đảng thực hiện sự lãnh đạo đối với quân đội bằng đường lối, chủ trương cho mọi hoạt động thể hiện ở cương lĩnh chính trị, nghị quyết, chỉ thị, đồng thời thông qua hệ thống tổ chức đảng mà hạt nhân là các cấp ủy, chế độ chỉ huy, chế độ công tác đảng, công tác chính trị và các tổ chức quần chúng trong quân đội.
Để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, vấn đề cơ bản là phải xây dựng hệ thống tổ chức đảng trong quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh, có sức chiến đấu cao. Thường xuyên chăm lo xây dựng các tổ chức đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức; đấu tranh chống mọi tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; miễn dịch trước sự tấn công, xâm nhập của những khuynh hướng, quan điểm, tư tưởng sai trái của các thế lực thù địch; ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn nhằm hạ thấp và xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. 
Trong điều kiện hiện nay, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, trước hết phải thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết số 51-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) về tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy, gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam; tiếp tục quán triệt sâu sắc, tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng”; tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên gương mẫu về mọi mặt, thực sự là hạt nhân đoàn kết, tổ chức lãnh đạo đơn vị chấp hành nghiêm đường lối của Đảng và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Hai là, tăng cường đấu tranh trên mặt trận lý luận, tư tưởng, vạch trần âm mưu của các thế lực thù địch làm cho quân đội ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo khuynh hướng “phi chính trị hóa”.
Nhiệm vụ cơ bản trong đấu tranh trên lĩnh vực lý luận, tư tưởng chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội là bảo vệ và phát triển các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội kiểu mới, về bản chất cách mạng, mục tiêu lý tưởng chiến đấu của quân đội ta. Đồng thời, đấu tranh trực diện, vạch trần bản chất chính trị phản động, phản khoa học của âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội là vô căn cứ, phản khoa học cả về lý luận và thực tiễn; là nhân danh “dân chủ hóa” để “lừa bịp về chính trị”; thực chất là nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quân đội, hòng “chuyển hóa” lập trường chính trị, bản chất giai cấp công nhân của quân đội ta.
Để tiến hành đấu tranh trên mặt trận lý luận, tư tưởng chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội có hiệu quả, cần tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, chú trọng và thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lý luận trong quân đội có đủ phẩm chất và năng lực, nhanh nhạy, sắc bén trong đấu tranh và tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng này tích cực tham gia đấu tranh trên mặt trận lý luận, tư tưởng.
Ba là, tăng cường giáo dục, giác ngộ cán bộ, chiến sĩ về bản chất giai cấp công nhân của Quân đội nhân dân Việt Nam
Giáo dục, giác ngộ bản chất giai cấp công nhân của quân đội ta cho cán bộ, chiến sĩ là một nội dung quan trọng nhằm xây dựng bản lĩnh chính trị, lập trường giai cấp, củng cố niềm tin của cán bộ, chiến sĩ vào sự lãnh đạo của Đảng. Sự giác ngộ sâu sắc bản chất giai cấp công nhân của cán bộ, chiến sĩ có tác dụng trực tiếp ngăn chặn sự xâm nhập, lây lan những quan điểm, tư tưởng “phi chính trị hóa” quân đội, “quân đội phi giai cấp”, “quân đội trung lập về chính trị”. 
Bản lĩnh chính trị của cán bộ, chiến sĩ quân đội hiện nay được thể hiện ở sự kiên định con đường cách mạng của Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, kiên trì hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; có ý chí quyết tâm cao, nhạy bén, sắc sảo về chính trị, năng lực hoạt động thực tiễn và phương pháp tác phong công tác tốt, lối sống trung thực, giản dị, không bị cám dỗ bởi lối sống cá nhân chủ nghĩa, thực dụng, chạy theo lợi ích vật chất tầm thường; không ngại khó, ngại khổ, ngại học, ngại rèn, nâng cao trình độ năng lực toàn diện, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Nhiệm vụ của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng là phải làm cho bản chất cách mạng của quân đội tồn tại và phát triển mạnh mẽ trong tư tưởng, tình cảm của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Đồng thời, tăng cường giáo dục bản chất giai cấp công nhân của quân đội phải đi đôi với tăng cường giáo dục chủ nghĩa yêu nước, bồi dưỡng tình cảm đối với quê hương, đất nước, con người Việt Namcho cán bộ chiến sĩ trong quân đội.
Bốn là, coi trọng xây dựng môi trường văn hóa ở các cơ quan, đơn vị quân đội trong sạch, lành mạnh, xây dựng đạo đức, lối sống, nhân cách người quân nhân xã hội chủ nghĩa.
Các cơ quan, đơn vị quân đội cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động xây dựng “môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú”, tạo những chuyển biến tích cực trong đời sống văn hóa, tinh thần của bộ đội, tạo thêm sức mạnh xây dựng ý chí quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Đó là môi trường hết sức thuận lợi để nuôi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp “Bộ đội cụ Hồ”, từng bước hạn chế và khắc phục các biểu hiện tiêu cực trong đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ trong quân đội ta hiện nay.
TS. TRƯƠNG MINH TUẤN
Read more…

Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

2:35 PM |

Trong các văn kiện của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã khẳng định nhiệm vụ"xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng". Đó chính là sự tiếp tục phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền trong điều kiện mới. Ngay từ buổi đầu được thành lập và trong suốt quá trình xây dựng, phát triển, Nhà nước ta đã mang những yếu tố của Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, gắn bó chặt chẽ và phục vụ lợi ích của nhân dân, của dân tộc. Nhà nước đã từng bước thực hiện việc quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn đổi mới trong những năm qua đã khẳng định yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng như một xu thế khách quan, mang tính quy luật của quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.



Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính là xây dựng một nhà nước thực sự của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng với lý tưởng dân chủ, nhân đạo, công bằng, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân; nhà nước được tổ chức và vận hành một cách khoa học, phù hợp với thực tiễn đất nước, tổ chức, hoạt động của nhà nước phải đặt trên cơ sở pháp luật, chịu sự điều chỉnh của pháp luật; nhà nước quản lý xã hội bằng một hệ thống pháp luật vì con người; quyền lực nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc thống nhất quyền lực, có sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, có cơ chế an toàn và hiệu quả ngăn chặn mọi sự lạm quyền, vi phạm lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
1 - Quá trình nhận thức của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc cũng như xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng ta luôn quan tâm lãnh đạo việc củng cố, từng bước hoàn thiện bộ máy nhà nước và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta hết sức coi trọng việc cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với điều kiện mới. Đặc biệt, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1994), Đảng ta đã khẳng định phương hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Namcủa nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Phương hướng đó được cụ thể hóa một bước tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tám, khóa VII đầu năm 1995. Tại Hội nghị này, 5 quan điểm cơ bản để tiến hành cải cách bộ máy nhà nước theo định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền được xác định. Tiếp đến, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta một lần nữa khẳng định 5 quan điểm cơ bản nêu trên. Đó là:
- Xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân; lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hoạt động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và nhân dân.
- Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
- Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước.
- Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức.
- Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4-2001) tiếp tục khẳng định nhiệm vụ "xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng" và chỉ rõ "Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân".
Như thế, từ khi ra đời cho đến nay, trong đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn quán triệt tư tưởng xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân ở Việt Nam, coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật - phương tiện quan trọng trong quản lý nhà nước.
2 - Các nội dung đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân
Trong quá trình xây dựng và từng bước hoàn thiện Nhà nước cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cho đến nay Nhà nước ta đã ban hành 4 bản Hiến pháp dân chủ, tiến bộ. Đó là Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992, trong đó quy định về chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng; quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; quy định về tổ chức bộ máy nhà nước phù hợp với thực tiễn các giai đoạn phát triển của cách mạng nước ta.
Từ thực tiễn này, các nội dung đặc trưng của Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân ngày càng được định hình:
Một là: Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
Hai là: Xác định quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công rành mạch và sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Đây vừa là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta, vừa là quan điểm chỉ đạo quá trình tiếp tục thực hiện việc cải cách bộ máy nhà nước.
Ba là: Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh các quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Bốn là: Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân, thực hành dân chủ, đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật.
Năm là: Nhà nước tôn trọng và thực hiện đầy đủ các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namlà thành viên.
Sáu là: Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, sự giám sát của nhân dân và sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận.
Như vậy, xuất phát từ bản chất của chế độ, điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, ngoài việc đáp ứng các yêu cầu, đặc điểm cơ bản của Nhà nước pháp quyền nói chung thì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn có những đặc trưng riêng thể hiện rõ nét bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đó là:
- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước mà ở đó quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; không tam quyền phân lập; mọi cách thức tổ chức và hoạt động của Nhà nước đều có mục đích chung là vì lợi ích xã hội, lợi ích quốc gia, dân tộc và lấy việc phục vụ nhân dân làm mục đích duy nhất và tối cao.
- Việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thực hiện trong điều kiện một đảng cầm quyền duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam.
3 - Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cần tập trung vào một số việc sau đây:
1 - Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, Nhà nước phải luôn luôn chú trọng kết hợp thực hiện tốt chức năng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và chính sách đó; phải luôn luôn gắn bó chặt chẽ nhiệm vụ phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh.
2 - Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải dựa vào lực lượng nhân dân, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; phải xuất phát từ nguyện vọng và lợi ích của nhân dân và dựa trên nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
3 - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức và phân công quyền lực nhà nước thực sự khoa học, phát huy mạnh mẽ hiệu lực, hiệu quả quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước thực hiện ba quyền thống nhất có sự phân công rành mạch, trong đó, đề cao trách nhiệm, tính chủ động và sự phối hợp hoạt động của các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; thực hiện sự phân cấp hợp lý quyền lực nhà nước giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương; xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, bảo đảm thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Để xây dựng Nhà nước vững mạnh, cần tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp; xác định rõ tính chất, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, mô hình tổ chức của Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp; tiếp tục nghiên cứu làm rõ mô hình tổ chức các cơ quan tư pháp (tòa án, viện kiểm sát, cơ quan điều tra) cho phù hợp với yêu cầu mới; tăng cường vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế. Các cơ quan nhà nước thực hiện quản lý nhà nước đối với các hoạt động kinh tế, bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Theo đó:
Quốc hội phải thật sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; thực hiện chức năng lập hiến, lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Tổ chức và hoạt động của Quốc hội cần được đổi mới mạnh hơn nữa theo hướng tăng cường chất lượng và vị thế của đại biểu Quốc hội, nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; tăng cường số đại biểu Quốc hội chuyên trách đến tỷ lệ hợp lý (khoảng 40% hoặc 50% tổng số đại biểu Quốc hội); tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa quy trình xây dựng luật, pháp lệnh, đổi mới phương thức giám sát và cách thức quyết định ngân sách nhà nước.
Chính phủ phải nâng cao hiệu lực hoạt động của mình, thực sự là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của đất nước; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thực hiện mọi chính sách, biện pháp hữu hiệu nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân; xác định rõ hơn trách nhiệm của Chính phủ và từng Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ trong việc quản lý ngành, lĩnh vực phụ trách; cải tiến việc phân định, phân cấp trách nhiệm, thẩm quyền giữa các cấp chính quyền theo hướng phân cấp mạnh hơn nữa cho địa phương kết hợp với quản lý theo ngành và theo lãnh thổ. Chính phủ khẩn trương hoàn thiện hợp lý cơ cấu tổ chức bộ máy của mình theo hướng quản lý vĩ mô và mô hình quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; từng bước sắp xếp, tổ chức lại các bộ, ngành ở trung ương, bảo đảm tinh gọn, hợp lý và được hiện đại hóa.
Tiếp tục quán triệt chủ trương đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước một cách sâu rộng, toàn diện, đồng bộ từ trung ương đến địa phương, cơ sở. Tập trung cải cách thể chế hành chính; cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản hóa các thủ tục trong các lĩnh vực có tác động trực tiếp tới đời sống và sản xuất kinh doanh của nhân dân; loại bỏ những khâu xin phép, xét duyệt không cần thiết; công khai các quy định, thủ tục hành chính; triển khai trong các cấp hành chính của cả nước thực hiện cơ chế "một cửa"; chấn chỉnh việc ban hành các thủ tục hành chính và quy định lệ phí, bảo đảm chặt chẽ; nâng cao chất lượng giải quyết các khiếu kiện của nhân dân; chấn chỉnh bộ máy và quy chế hoạt động của hệ thống hành chính; cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức và đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu chuyên nghiệp hóa, nâng cao chất lượng cả về phẩm chất và năng lực, kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện quan liêu, tham nhũng, thoái hóa, biến chất và các tiêu cực khác trong hệ thống hành chính; loại bỏ cán bộ, công chức kém phẩm chất và năng lực ra khỏi bộ máy hành chính nhà nước. Thực hiện cơ chế bãi miễn những người không xứng đáng. Có những giải pháp đồng bộ để khắc phục cho được thái độ vô trách nhiệm của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước. Đó là thái độ làm việc thụ động, né tránh khó khăn, sợ va chạm, cốt sao giữ yên được vị trí trong cơ quan nhà nước. Kiên quyết xóa bỏ mọi rào cản đối với công cuộc cải cách hành chính.
- Xác định Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân trong một thể thống nhất của chính quyền địa phương. Hội đồng nhân dân là cơ quan đại biểu đại diện cho nhân dân địa phương, hoạt động mang tính tự quản, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật. Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu là cơ quan thường trực của Hội đồng nhân dân và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
- Đổi mới tổ chức và hoạt động tư pháp để xây dựng một nền tư pháp Việt Nam vững mạnh, minh bạch, bảo đảm công lý, công bằng, dân chủ, tận tụy phục vụ nhân dân. Phải xuất phát từ mục tiêu lấy tổ chức và hoạt động của tòa án làm trung tâm của cải cách tư pháp.
Thực hiện việc tổ chức tòa án theo cấp xét xử (sơ thẩm và phúc thẩm); không tổ chức tòa án gắn với đơn vị hành chính; xây dựng hệ thống tòa án theo hướng: Tòa án sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện; Tòa án cấp tỉnh chủ yếu xét xử phúc thẩm, Tòa thượng thẩm được tổ chức theo khu vực để xét xử phúc thẩm các vụ án mà Tòa án cấp tỉnh đã xét xử sơ thẩm mà có kháng cáo, kháng nghị, Tòa án Nhân dân tối cao có nhiệm vụ xét xử các vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và làm nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn các tòa án áp dụng thống nhất pháp luật, ban hành án lệ.
Viện Kiểm sát thực hiện chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp cần được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của tòa án. Nghiên cứu thành lập Viện Công tố thuộc Chính phủ và tiến tới thực hiện cơ chế: cơ quan công tố chỉ đạo, chỉ huy điều tra.
Chính quy hóa lực lượng điều tra, nghiên cứu tổ chức lại cơ quan điều tra theo hướng thu gọn đầu mối, có thể thành hệ thống cơ quan độc lập thuộc Chính phủ hoặc thuộc hệ thống cơ quan công tố. Đổi mới công tác thi hành án theo hướng tập trung thống nhất quản lý vào một đầu mối (Bộ Tư pháp).
Nghiên cứu thành lập Tòa án Hiến pháp (hoặc Ủy ban bảo hiến) với chức năng bảo vệ Hiến pháp bằng thẩm quyền xét xử để ra phán quyết về sự vi phạm Hiến pháp của các văn bản quy phạm pháp luật, xét xử các quyết định, hành vi vi phạm Hiến pháp của cơ quan và cá nhân có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước và làm nhiệm vụ giải thích Hiến pháp, luật pháp (trong điều kiện còn ban hành pháp lệnh thì giải thích cả pháp lệnh).
4 - Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng việc định hướng về tổ chức bộ máy nhà nước, lựa chọn, giới thiệu cán bộ để giữ các vị trí chủ chốt trong bộ máy nhà nước, lãnh đạo cơ quan nhà nước thể chế hóa chủ trương, nghị quyết của Đảng thành pháp luật; tăng cường quản lý và kiểm tra tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên hoạt động trong bộ máy nhà nước, vừa bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, vừa phát huy được tính chủ động, năng động và tự chịu trách nhiệm của những người đứng đầu của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Như vậy, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước ta theo hướng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một quá trình tương đối lâu dài với những bước đi vững chắc gắn liền với quá trình đổi mới kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị. Chúng ta tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với sự nỗ lực phấn đấu bền bỉ của Nhà nước và nhân dân ta, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân sẽ được tiếp tục xây dựng và trở thành hiện thực ở Việt Nam.
Nguyễn Văn Yểu -   Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội
Read more…