Sự phát triển của sở hữu toàn dân về đất đai là tiền đề quyết định sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Một là, sở hữu đất đai là phạm trù lịch sử, nó biến dổi cùng với sự biến đổi của các hình thái kinh tế - Xã hội. Trong Xã hội nguyên thủy, con nguời phải dựa vào nhau, cùng sở hữu chung đối với tư liệu sản xuất, đất đai, cùng lao động và sống chung. Sự phát triền của xã hội loài người đã làm xuất hiện chế độ tư hữu, trong đó có tư hữu đất đai, gây ra biết bao đau khổ cho loài người, tạo nên những mâu thuẫn không thề điều hoà dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa xã hội.
Trong chủ nghĩa xã hội, chế độ tư hữu, trong dó có tư hữu đất đai dần bị xoá bỏ, chế độ sỡ hữu toàn dân về đất đai từng bước được thiết lập trên thực tế, đã tạo nên quan hệ sản xuất xã hội kiểu mới thể hiện sự hợp tác, tương trợ không có áp bức bóc lột giữa những người lao dộng. Xoá bỏ chế độ tư hữu để thiết lập chế độ công hữu (toàn dân) được xem là một trong những điều kiện cốt yếu để tiến tới xoá bỏ chế độ người bóc lột người, xoá bỏ mọi sự bất công trong xã hội. Do vậy, chế độ công hữu (toàn dân) đối với tư liệu sản xuất, đất đai được xem là một trong những tiêu chí để phân biệt và đồng thời cũng thể hiện tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội so với các chế độ xã hội khác. Chế dộ sở hữu đất đai có liên quan đến xu hướng phát triền của đất nước, liên quan đến tính hiệu quả trong quá trình quản lý, khai thác và sử dụng đất đai. Ðất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là tài nguyên vô cùng quý giá, là nguồn lực phát triển của đất nước, là nguồn sống của nhân dân. Ðất đai không phải đơn thuẩn là vẩn đề kinh tế, mà là một vấn đề tổng hợp. Cả kinh tế, chính tri, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh... Vì vậy chính sách, pháp luật về đắt đai phải góp phần ổn định chính trị - xã hội. Đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, hội nhập quốc tế; huy động tốt nhất nguồn lực từ đất nước để phát triển đất nước; bảo đảm hài hòa các lợi ích.
Trong diều kiện và trình độ phát triển nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa như hiện nay của nước ta, xác định "chế độ sở hữu toàn dân" về đất đai thực chất phản ánh được ý nghĩa chính trị - xã hội của quan hệ đất đai. Đất đai là lãnh thổ, tài nguyên quốc gia, của cả dân tộc, của toàn dân; quan hệ đất đai, chế độ sở hữu đất đai không thể là một công cụ để bóc lột người lao động; những lợi ích chủ yếu thu từ đất đai (như thuế sử dụng đất) phải được sử dụng phục vụ chung cho xã hội.
Hai là, chế độ sở hữu đất đai ở các quốc gia, do tầm quan trọng của nó, luôn được ghi trong đạo luật cao nhất của quốc gia - Hiến pháp. Do hoàn cảnh cụ thể đất nước, nên mỗi giai đoạn lịch sử, hiến pháp và pháp luật Việt Nam qui định chủ thể, phạm vi, nội đung của chế độ sỏ hữu đất đai không giống nhau và cơ chế thực hiện, bảo vệ các quyền liên quan đến chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đất đai cũng khác nhau. Lịch sử lập hiến Việt Nam từ 1945 cho thẩy, mỗi khi chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam thay đổi thì đòi hỏi phải sửa đổi hiến pháp. Hiến pháp 1946, 1959, trong điều kiện đất nước còn chiến tranh, chưa phù hợp để xác định chế độ kinh tế trên cơ sở chế độ sở hữu toàn đân về đất đai. Hiến pháp 1980, 1992 và dự thảo Hiến pháp (sửa đổi), trong điều kiện đất nước hoà bình, thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội, khẳng định chế độ kinh tế dựa trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, là phù hợp với lý luận và thực tiễn.
Comments[ 0 ]
Post a Comment