Quyền con người, quyền công dân trong dự thảo sửa đổi hiến pháp

10:50 AM |
Sau khi nghiên cứu Chương 2 của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, chúng tôi thấy rằng, nội dung của chương này đã thể hiện được quan điểm, tư tưởng của Đảng và Nhà nước ta về tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam. Tuy nhiên, nếu hoàn thiện thêm về nội dung và kỹ thuật lập hiến, thì quan điểm, tư tưởng về nhân quyền của Đảng và Nhà nước ta sẽ được phản ánh một cách đầy đủ và toàn diện hơn. Bài viết này xin được góp ý kiến để hoàn thiện các vấn đề nêu trên.


Trước hết, chúng tôi cho rằng, việc phân bố các điều trong chương chưa tuân theo một trật tự nhất định, nên khó theo dõi. Bởi vậy, để cho hợp lý, chặt chẽ và rõ ràng hơn, theo chúng tôi, nên chia Chương 2 thành 3 mục:
Mục 1: Nguyên tắc chung về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (trong Dự thảo gồm các Điều 15 - 20, 51 - 52);
Mục 2: Quyền con người và quyền cơ bản của công dân (trong Dự thảo gồm các Điều 21 - 46)
Mục 3: Nghĩa vụ cơ bản của công dân (trong Dự thảo gồm các Điều 41, 46 - 50).
Hiến pháp của nhiều nước trên thế giới cũng phân chia thành các mục trong mỗi chương như vậy. Ngoài ra, cần quy định những bảo đảm của Nhà nước đối với quyền con người, quyền công dân đã được ghi nhận để các quyền đó có tính hiện thực. Các bảo đảm đó cần được quy định rõ ràng, dứt khoát về chính sách, pháp luật, cơ chế và những hoạt động thực tiễn của Nhà nước chứ không quy định theo công thức: “Nhà nước tạo điều kiện…” hay “quyền… được Nhà nước bảo hộ” hoặc “quyền… được pháp luật bảo hộ”, v.v.
Dưới đây là những góp ý của chúng tôi đối với từng điều trong mỗi mục.
Mục 1: Nguyên tắc chung về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
Điều 15:Trong khoản 1 nên bỏ cụm từ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa” vì cụm từ này thường đứng sau từ “Nhà nước” để chỉ hình thức chính thể của Nhà nước ta, chứ không thể đứng sau từ “nước” chỉ quốc gia (đất nước, tổ quốc) Việt Nam; bỏ từ “bảo vệ” vì trong “bảo đảm” đã có bảo vệ rồi, pháp luật không chỉ có tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện quyền con người, quyền công dân; bỏ cụm từ “Hiến pháp và” vì “Hiến pháp” chỉ là một dạng (hình thức, loại) văn bản quy phạm pháp luật có chứa đựng các quy phạm pháp luật, còn “pháp luật” là hệ thống các quy phạm pháp luật, do vậy, hai khái niệm pháp lý này không thể đứng cùng hàng với nhau được và không thể thay thế nhau được. Nếu sử dụng từ “Hiến pháp” thì sau đó phải là cụm từ “và luật”. Với việc bỏ một số từ, cụm từ nêu trên, khoản 1 sẽ được diễn đạt lại như sau: “Ở nước Việt Nam, quyền con người, quyền công dân được Nhà nước và xã hội thừa nhận, tôn trọng và bảo đảm theo pháp luật”.
Ở khoản 2, nên bỏ từ “có thể” và bổ sung từ “bởi luật” hay “bằng luật” hoặc cụm từ “theo quy định của luật” và đặt các từ, cụm từ này sau từ “giới hạn”, vì khoản 2 Điều 20 của Dự thảo đã quy định quyền công dân do Hiến pháp và luật quy định (Hiến pháp cũng là luật nhưng là luật cơ bản), do đó chỉ có luật mới hạn chế được quyền con người, quyền công dân. Nên bỏ đoạn “trong trường hợp cần thiết vì lý do…”, đồng thời chuyển khoản 2 Điều 16 (mới) lên làm khoản 3 Điều 15.
Điều 16 (mới): Bởi đã lấy khoản 2 làm khoản 3 Điều 15, nên còn khoản 1, nhưng theo chúng tôi, cũng không cần thiết phải quy định như vậy vì 3 lý do chủ yếu: (i) Trong Mục 1 này chỉ chứa đựng các điều quy định các nguyên tắc chung về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân chứ không bao gồm những điều quy định các nghĩa vụ cụ thể của mọi người; (ii) Khoản 1 Điều 20 đã quy định quyền công dân không tách rời nghĩa công dân, có nghĩa là khi được hưởng quyền thì công dân cũng phải thực hiện nghĩa vụ, trong đó có nghĩa vụ tôn trọng quyền của công dân khác và (iii) Đã có Điều 49 thuộc Mục 3 quy định nghĩa vụ của công dân “chấp hành Hiến pháp và pháp luật”, trong đó có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác.
Điều 18: Cần có thêm cụm từ “của Nhà” trước từ “nước” trong khoản 1 mới chính xác về mặt khoa học, hoặc chỉ cần quy định: “Công dân của Nhà nước Việt Nam”, vì “công dân” là khái niệm pháp lý chỉ một cá nhân có mối quan hệ pháp lý ràng buộc với Nhà nước Việt Nam chứ không phải với quốc gia Việt Nam, đất nước Việt Nam. Trên cơ sở nhận thức như vậy, cũng có thể bằng phương pháp giản ước sử dụng cụm từ “Công dân Việt Nam” (ở đây có sự khác nhau về mặt bản chất giữa hai khái niệm “công dân Việt Nam” và “người Việt Nam”: “công dân Việt Nam” chỉ một cá nhân có mối quan hệ pháp lý ràng buộc với Nhà nước Việt Nam, còn “người Việt Nam” chỉ một cá nhân có nguồn gốc Việt Nam); bỏ khoản 2; trong khoản 3 nên bỏ cụm từ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa” và thay từ “Việt Nam” bằng từ “của mình” sau từ “công dân”. Như vậy, đoạn văn này sẽ được diễn đạt lại là: “Nhà nước Việt Nam bảo hộ công dân của mình ở nước ngoài” và trở thành khoản 2 của Điều 18.
Điều 19:Đoạn văn cuối của khoản 2 “… giữ quan hệ gắn bó... đất nước” nên bổ sung cụm từ “đất nước và” trước từ “góp phần” và từ “gia đình” sau từ “xây dựng”. Như vậy, đoạn văn này sẽ được diễn đạt lại như sau: “… giữ quan hệ gắn bó với gia đình, quê hương, đất nước và góp phần xây dựng gia đình, quê hương, đất nước”.
Điều 20 được sắp xếp lại như sau: Khoản 1 được giữ nguyên; khoản 2 được lấy lại từ đoạn 2 Điều 51 Hiến pháp năm 1992 hiện hành nhưng có sửa đổi, bổ sung như sau: “Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân, công dân thực hiện đầy đủ (chứ không phải “làm tròn”) nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội”; khoản 3 là khoản 2 hiện có của Điều 20 trong Dự thảo.
Chuyển Điều 51 và Điều 52 vào Mục 1, nhưng có sửa đổi, bổ sung:
 Điều 51: Thay từ “tuân theo” bằng từ “thực hiện” vì tuân theo pháp luật chỉ là một trong 4 hình thức thực hiện pháp luật mà thôi; bỏ cụm từ “Hiến pháp và” với lý do như trên đã giải thích; thêm từ “Việt Nam” sau từ “Nhà nước”.
Điều 52: Bỏ cụm từ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa” và bổ sung cụm từ “ở Việt Nam”  sau từ “cư trú”.
Mục 2: Quyền con người và quyền cơ bản của công dân
Theo chúng tôi, nên sắp xếp lại các điều ghi nhận (chứ không phải là “quy định”) quyền con người, quyền cơ bản của công dân theo thứ tự các quyền về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội (kế thừa cách sắp xếp hợp lý tại Điều 50 của Hiến pháp năm 1992 hiện hành).
Căn cứ vào các điều hiện có trong Dự thảo, chúng tôi thấy đối với các quyền chính trị có: Quyền bầu cử, quyền ứng cử (Điều 28); quyền tham gia quản lý nhà nước (Điều 29); quyền biểu quyết (Điều 30); quyền khiếu nại, quyền tố cáo (Điều 31). Về các quyền dân sự, có quyền sống (Điều 21); quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và quyền hiến mô, hiến bộ phận cơ thể người và hiến xác (Điều 22); quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và trao đổi thông tin riêng tư; quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình (Điều 23); quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước (Điều 24); quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 25); quyền tự do ngôn luận, báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình (Điều 26); quyền bình đẳng nam nữ (Điều 27); quyền được suy đoán vô tội (Điều 32); quyền sở hữu tài sản hợp pháp và quyền thừa kế tài sản hợp pháp (Điều 33); quyền có nơi ở hợp pháp (Điều 36); quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở hợp pháp (Điều 37), quyền sở hữu trí tuệ (khoản 2 Điều 43); quyền được xác định nguồn gốc dân tộc (Điều 45); quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 46). Đối với các quyền kinh tế, có quyền sở hữu hợp pháp tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế hợp pháp (Điều 33); quyền tự do kinh doanh và quyền được Nhà nước bảo hộ quyền tự do kinh doanh (Điều 34); quyền làm việc, quyền lựa chọn việc làm, nghề nghiệp và nơi làm việc (Điều 38). Về các quyền văn hóa, có quyền học tập (Điều 42); quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, quyền sáng tạo văn học và nghệ thuật (Điều 43); quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa, quyền tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa và tiếp cận các giá trị văn hóa (Điều 44); quyền sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, tự do lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều 45). Đối với các quyền xã hội, có các  quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 35); quyền kết hôn và ly hôn (Điều 39); quyền của trẻ em (Điều 40); quyền được bảo vệ sức khỏe (Điều 41).
Chúng tôi xin góp ý sửa đổi, bổ sung về các vấn đề trên như sau:
a. Đối với các điều ghi nhận quyền chính trị
Điều 28: Bổ sung bảo đảm của Nhà nước đối với quyền bầu cử và quyền ứng cử của công dân Việt Nam.
Điều 29: Bỏ từ “tham gia” sau từ “quyền” trước từ “thảo luận” trong khoản 1; đối với khoản 2 cần thay cụm từ “tạo điều kiện” bằng những hoạt động chủ yếu của Nhà nước đối với quyền quản lý nhà nước và xã hội của công dân và bỏ từ “tham gia” sau từ “công dân” và cả đoạn “công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân”.
Điều 30: Cần ghi rõ là: “Công dân có quyền biểu quyết Hiến pháp và các vấn đề quan trọng khác của quốc gia khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân” và bổ sung bảo đảm của Nhà nước đối với quyền biểu quyết của công dân.
Bổ sung quyền phản biện của công dân đối chính sách, pháp luật của Nhà nước và những bảo đảm của Nhà nước đối với quyền này.
- Đối với các điều ghi nhận quyền dân sự
Ghép Điều 21 với Điều 22 có sửa đổi, bổ sung thành 3 khoản (bỏ khoản 3 Điều 22 của Dự thảo) như sau: 1. “Mọi người đều có quyền sống và quyền được chết theo quy định của pháp luật”; 2. “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm” (bỏ cụm từ “được pháp luật bảo hộ về…”); 3. “Nghiêm cấm mọi... của con người” (giữ lại toàn bộ khoản 2 Điều 22 của Dự thảo).
Điều 23: Bổ sung đoạn “bất khả xâm phạm về” sau cụm từ “có quyền” ở khoản 2.
Điều 24:Thay từ “Công dân” bằng từ “Mọi người” và bỏ cụm từ “theo quy định của pháp luật”; bổ sung bảo đảm của Nhà nước đối với quyền này.
 Điều 26: Thay từ “Công dân” bằng từ “Mọi người”; bỏ cụm từ “theo quy định của pháp luật” và bổ sung bảo đảm của Nhà nước đối với quyền này.
Điều 27: Bỏ từ “Công dân” trong khoản 1; ở khoản 2 nên bỏ cụm từ “có chính sách”, từ “công dân” và đoạn văn cuối “Nhà nước, xã hội và gia đình…xã hội”; thay cụm từ “về giới” bằng cụm từ “với phụ nữ” trong khoản 3.
Điều 32: Cần diễn đạt lại khoản 2 cho rõ ý đồ của nhà lập hiến, nếu không thì thôi vì theo tinh thần của khoản 1 thì người bị buộc tội đã có quyền yêu cầu tòa án xét xử để khẳng định người đó có tội hay không có tội.
Điều 33:Chỉ nên ghi nhận quyền sở hữu của mọi người về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt vì quyền sở hữu này do pháp luật dân sự điều chỉnh và bảo đảm của Nhà nước, còn quyền sở hữu về tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác, kể cả đất được Nhà nước giao sử dụng thì do pháp luật kinh tế điều chỉnh và ghi nhận quyền sở hữu này cùng bảo đảm của Nhà nước ở phần các điều ghi nhận quyền kinh tế.
Điều 36:Thay từ “Công dân” bằng từ “Mọi người” ở khoản 1 và khoản 2, đồng thời diễn đạt lại khoản 2 theo hướng chỉ rõ những bảo đảm cụ thể của Nhà nước để mọi người có được nơi ở hợp pháp, ổn định chứ không quy định chung chung và khó hiểu như thế này (thế nào là “chính sách tạo điều kiện”?). 
Điều 45:Chỉ lấy đoạn “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình” nhưng thay từ “Công dân” bằng từ “Mọi người” và bổ sung từ “nguồn gốc” trước từ “dân tộc”, theo đó chúng ta có: “Mọi người có quyền xác định nguồn gốc dân tộc của mình”.
Điều 46: Bổ sung quyền của mọi người được sống trong môi trường xã hội trong sạch (hay trong lành), và như vậy thì khoản 1 được diễn đạt lại như sau: “Mọi người có quyền được sống trong môi trường xã hội và môi trường tự nhiên trong sạch (hay trong lành)”.
b. Đối với các điều ghi nhận quyền kinh tế
Điều 33: Lấy một phần nội dung của Điều 33 hiện có trong Dự thảo để lập một điều riêng có hai khoản: Khoản 1 ghi nhận: “Mọi người có quyền sở hữu về tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác”; Khoản 2 quy định những bảo đảm của Nhà nước đối với quyền này. 
Điều 38:Thay từ “Công dân” bằng từ “Mọi người”; đưa nội dung khoản 2 vào khoản 1 nhưng bổ sung từ “người” sau từ “cưỡng bức” và thay dấu phẩy (,) sau cụm từ “cưỡng bức người lao động” bằng liên từ “và”. Với việc sửa đổi, bổ sung như vậy, khoản 1 Điều 38 được diễn đạt như sau: “Mọi người có quyền làm việc, lựa chọn việc làm, nghề nghiệp và nơi làm việc. Nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức người lao động và sử dụng người lao động chưa thành niên trái pháp luật”. Bên cạnh đó cũng cần bổ sung khoản 2 mới quy định những bảo đảm của Nhà nước đối với quyền làm việc, quyền lựa chọn việc làm, nghề nghiệp và nơi làm việc. Bổ sung 2 điều mới ghi nhận lại quyền của người sản xuất và quyền của người tiêu dùng được Nhà nước bảo vệ quyền lợi mà Điều 28 Hiến pháp năm 1992 đã ghi nhận, đồng thời quy định và những bảo đảm của Nhà nước đối với quyền của hai chủ thể quyền đó.
c. Đối với các điều ghi nhận quyền văn hóa
Điều 42: Kết cấu lại thành 2 khoản. Khoản 1 ghi nhận lại như sau: “Mọi người có quyền học tập”. Khoản 2 quy định những bảo đảm của Nhà nước đối với quyền học tập với một số nội dung có thể được kế thừa từ Điều 59 Hiến pháp năm 1992 hiện hành, như Nhà nước thực hiện chính sách học phí, học bổng hợp lý; chính sách phát triển tài năng đối với học sinh có năng khiếu và chính sách ưu tiên đối với trẻ em khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
Điều 43:Nên bổ sung những bảo đảm của Nhà nước đối với quyền nghiên cứu khoa học, công nghệ và quyền sáng tạo văn học, nghệ thuật bằng những hoạt động thực tiễn chủ yếu về xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật đó chứ không quy định chung chung là “Quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ”.
Điều 44: Bổ sung những bảo đảm của Nhà nước đối với quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa và tiếp cận các giá trị văn hóa.
Điều 45:Thay từ “Công dân” bằng từ “Mọi người” và cần quy định rõ hơn mục đích và những trường hợp, hoàn cảnh sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, đồng thời, bổ sung những bảo đảm của Nhà nước đối với quyền sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ và quyền tự do lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp.
d. Đối với các điều ghi nhận quyền xã hội
Điều 35: Thay từ “Công dân” bằng từ “Mọi người” và cân nhắc, tính toán lại xem có nên sử dụng cụm từ “an sinh xã hội” hay không, vì đây là một thuật ngữ (khái niệm) khá phức tạp mà không phải ai cũng hiểu được nội hàm của nó? Theo khoa học, khái niệm “an sinh xã hội” có nội hàm rất rộng, gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp xã hội, cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội. Vì vậy, nên kế thừa cách thức thể hiện của Hiến pháp năm 1992 hiện hành là quy định rõ chủ thể cụ thể nào, có quyền gì trong mỗi lĩnh vực của an sinh xã hội và những bảo đảm của Nhà nước đối với các quyền đó. (Ví dụ: Điều 67 Hiến pháp năm 1992 ghi nhận: Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ có quyền được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước).
Điều 39: Sửa lại khoản 1 như sau: “Nam, nữ có quyền kết hôn và việc kết hôn theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, một vợ một chồng; vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và đều có quyền ly hôn”.
Điều 40:Khoản 2 được diễn đạt như hiện tại là thành câu cụt (hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc,…ai?), do vậy, nên diễn đạt lại như sau: “Nghiêm cấm hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng trẻ em; bóc lột sức lao động của trẻ em và những hành vi khác xâm hại quyền trẻ em”.
 Điều 41: Trong khoản 1 nên thay từ “Công dân” bằng từ “Mọi người” và dừng lại sau từ “y tế”, còn đoạn “có nghĩa vụ thực hiện… đến hết…” sẽ được chuyển vào một điều khác quy định nghĩa vụ của mọi người; nối nội dung của khoản 2 vào khoản 1 và xác lập khoản 2 mới quy định bảo đảm của Nhà nước đối với quyền được bảo vệ sức khỏe của mọi người với nội dung có thể được kế thừa một số điểm trong Điều 61 Hiến pháp năm 1992 hiện hành, như quy định và thực hiện chế độ viện phí, chế độ miễn, giảm viện phí,v.v…
Mục 3: Nghĩa vụ cơ bản của công dân
Trong Dự thào, các điều quy định nghĩa vụ của công dân cần được sắp xếp lại một cách hợp lý và khoa học hơn. Theo chúng tôi, các điều luật đó cần được sắp xếp theo trình tự các nghĩa vụ, như: Trung thành với Tổ quốc (Điều 47); bảo vệ Tổ quốc (Điều 48); nghĩa vụ quân sự và xây dựng quốc phòng toàn dân (Điều 48); chấp hành pháp luật và các quy tắc sinh hoạt công cộng, bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội (Điều 49); thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh (Điều 41); bảo vệ môi trường (Điều 46); nộp thuế (Điều 50).
Đối với các điều trong Dự thảo, chúng tôi có một số ý kiến như sau:
Điều 47:Thay cụm từ “có nghĩa vụ” bằng từ “phải”.
Điều 48:Diễn đạt lại là: “Công dân phải bảo vệ Tổ quốc, thực hiện (bỏ từ “làm”) nghĩa vụ quân sự và (bỏ từ “tham gia”) xây dựng quốc phòng toàn dân”. Bỏ đoạn “việc thực hiện nghĩa vụ thay thế…”.
Điều 49:Diễn đạt lại cho gọn và hợp lý hơn như sau: “Công dân phải (bỏ cụm từ “có nghĩa vụ”) thực hiện (bỏ từ “chấp hành” và cụm từ “Hiến pháp và”) pháp luật và các quy tắc sinh hoạt công cộng, bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội”.
Điều 41:Diễn đạt lại cho gọn và hợp lý hơn như sau: “Công dân phải thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh”.
Điều 46:Diễn đạt lại cho gọn và hợp lý hơn như sau: “Công dân phải bảo vệ môi trường”.
Điều 50:Diễn đạt lại cho gọn và hợp lý hơn như sau: “Công dân phải nộp thuế”./.
PGS.TS. NGUYỄN VĂN ĐỘNG
Read more…

Bàn về một số chế định trong Dự thảo sửa đổi hiến pháp

10:45 AM |
Về các hình thức thực hiện quyền lực nhân dân
Hình thức thực hiện quyền lực nhân dân thể hiện trong Điều 6 Hiến pháp năm 1992 chưa thật đầy đủ. Nhân dân thực hiện quyền lực của mình không những thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp là các cơ quan dân cử, mà còn thông qua các hình thức dân chủ trực tiếp như trưng cầu dân ý hay sáng kiến pháp luật của nhân dân. Hiện nay, trưng cầu dân ý (referendum) là một hình thức thực hiện quyền lực nhân dân khá phổ biến trên thế giới. Nhiều nước còn quy định nhân dân có quyền sáng kiến pháp luật, như Hiến pháp Italia quy định từ 50.000 dân trở lên thì có quyền sáng kiến pháp luật.


        Phương châm xây dựng một Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là phương châm được quán triệt trong các Nghị quyết của Đảng và các Hiến pháp của nước ta. Tuy nhiên, cho đến nay, các thiết chế dân chủ trực tiếp chưa được xây dựng một cách đồng bộ. Hầu hết các nước xây dựng Nhà nước pháp quyền đều đã ban hành Luật Trưng cầu dân ý để nhân dân quyết định các vấn đề quan trọng nhất của đất nước. Các nước Châu Âu khi quyết định sửa đổi Hiến pháp, gia nhập Liên minh Châu Âu, bỏ đồng tiền quốc gia để sử dụng đồng Euro đều tiến hành trưng cầu dân ý để nhân dân quyết định. Ở Việt Nam, mặc dù trong Hiến pháp có quy định công dân có quyền thể hiện ý kiến của mình khi Nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý, tuy nhiên, cho đến nay, do chúng ta chưa có Luật Trưng cầu dân ý nên quyền này trên thực tế vẫn chưa thực hiện được. Để tạo cơ sở pháp lý thực hiện quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân, Điều 6 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã quy định: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”.
Về phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước
Phân công, phối hợp quyền lực giữa các cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là vấn đề rất quan trọng, tuy nhiên, kiểm soát quyền lực cũng là vấn đề đặc biệt quan trọng, vì không kiểm soát được quyền lực sẽ xảy ra hiện tượng lạm dụng quyền lực, quyền lực nhà nước sẽ bị sử dụng vì lợi ích cá nhân, gia đình, dòng tộc hoặc lợi ích nhóm. Vì vậy, bên cạnh việc phân công, phối hợp quyền lực, Hiến pháp sửa đổi lần này sẽ lưu tâm đến vấn đề kiểm soát quyền lực. Kiểm soát quyền lực nhà nước sẽ được coi là phương pháp đặc biệt quan trọng để chống sự lạm dụng quyền lực, làm cho bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, đồng thời đảm bảo cho bộ máy nhà nước trong sạch, hạn chế nạn tham nhũng trong bộ máy nhà nước. Vì thế, Điều 2 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã có quy định bổ sung: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự  phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.   
 Về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu cho các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người định cư ở nước ngoài. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống đại đoàn kết dân tộc, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức nhà nước.
 Trong giai đoạn phát triển mới của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, vai trò của Mặt trận cần phải được tăng cường, đặc biệt là trong việc phản biện xã hội đối với các chính sách xã hội, chính sách pháp luật, các hoạt động của các cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức, viên chức. Vì vậy, trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã ghi nhận vai trò phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Về tổ chức và hoạt động của Quốc hội
Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 tiếp tục khẳng định hai tính chất cơ bản của Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đồng thời cũng tiếp tục khẳng định 3 chức năng cơ bản của Quốc hội là lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và thực hiện quyền giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.
 Để tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã bổ sung thêm quy định: “Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn”.
Theo quy định của Hiến pháp, Quốc hội có quyền bầu cử Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đồng thời phê chuẩn các thành viên của Chính phủ do Thủ tướng đệ trình. Tuy nhiên, do việc bầu cử cũng như phê chuẩn đều chỉ có một ứng cử viên, nên bầu cử và phê chuẩn hầu như không khác nhau. Bầu cử là lựa chọn, nhưng nếu không có khả năng lựa chọn, thì đó chỉ là hình thức bỏ phiếu phê chuẩn mà thôi. Vì thế theo chúng tôi, cần có quy định bổ sung trong Hiến pháp hoặc trong Luật Tổ chức Quốc hội “việc bầu cử các chức vụ nói trên chỉ hợp lệ khi có ít nhất hai ứng cử viên”.
Để nâng cao vai trò của đại biểu Quốc hội, theo chúng tôi, cần có quy định bổ sung: “Đại biểu Quốc hội là đại biểu của nhân dân cả nước, có tư cách độc lập với bất kỳ chức vụ nào khác mà đại biểu đó kiêm nhiệm. Khi tham gia biểu quyết các vấn đề của Quốc hội, các chức vụ mà đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm không được phép xung đột hoặc lấn át tư cách đại biểu Quốc hội”.
Về tổ chức và hoạt động của Chính phủ
Hiến pháp hiện hành, tại Điều 109 quy định: “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Quy định trên đây chỉ mới làm rõ chức năng hành chính của Chính phủ, chưa làm rõ chức năng quan trọng của bất kỳ Chính phủ nào trên thế giới là chức năng chính trị. Đó là việc Chính phủ đề ra các chính sách của Nhà nước, trong đó có chính sách pháp luật. Theo chúng tôi, quy định này cần được sửa đổi như sau: “Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp cao nhất”. Quy định này vừa ngắn gọn, vừa thể hiện đầy đủ hai tính chất cơ bản của Chính phủ là tính chất chính trị và tính chất hành chính. Nếu quy định như trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp: “Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội” thì vẫn chưa rõ  địa vị pháp lý của Chính phủ  là cơ quan hành pháp cao nhất.
Theo quy định của Luật Tổ chức Chính phủ nhiều nước trên thế giới, cơ cấu của Chính phủ chỉ bao gồm Thủ tướng, Phó thủ tướng, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ. Tuy nhiên, theo Luật Tổ chức Chính phủ Việt Nam, cơ cấu của Chính phủ bao gồm Bộ và cơ quan ngang Bộ. Quy định như vậy đã dẫn đến sự nhầm lẫn giữa hoạt động của Bộ và hoạt động của Chính phủ, các Bộ trưởng coi nặng hoạt động ở Bộ, mà coi nhẹ hoạt động ở Chính phủ. Các Bộ là các cơ quan chuyên môn, là các cơ quan tác nghiệp hành chính, trong khi đó, Chính phủ là cơ quan chính trị, tức là đề ra các chủ trương, quyết sách và thực hiện chức năng điều hoà, phối hợp toàn bộ bộ máy hành chính nhà nước. Nếu quan niệm cơ cấu của Chính phủ bao gồm Bộ và cơ quan ngang Bộ, thì các Bộ trưởng chủ yếu hoạt động ở Văn phòng Bộ, trong khi đó là thành viên của Chính phủ, các Bộ trưởng phải “Lục Bộ tương thông”, nghĩa là phải thường xuyên nắm rõ công việc hiện hành của các bộ khác để điều hoà, phối hợp, như vậy các cuộc họp của Thủ tướng và các Bộ trưởng phải diễn ra hàng tuần chứ không phải hàng tháng. Chính phủ các nước trên thế giới thông thường một tuần họp một lần như ở Pháp, một tuần họp hai lần như ở Nội các Anh1, còn trong thời kỳ phong kiến, thì các phiên thiết triều được thiết lập vào các ngày lẻ hoặc ngày chẵn và không ít hơn 4 lần. Thời kỳ nhà Nguyễn, các Hội đồng Đình thần của vua Gia Long và Minh Mạng triệu tập gọi là Công Đồng họp vào các ngày 1, 8, 15, 23, sau đó đổi lại các ngày 2, 9, 16, 24, như vậy, bình quân mỗi tuần họp một lần. Dưới thời vua Minh Mạng, những ngày Thiết triều là những ngày lẻ: 5, 11, 21, 25. Chính phủ của chúng ta hiện nay họp một tháng một lần, như vậy không thể đảm bảo tính liên tục của hoạt động hành chính. Hoạt động điều hoà, phối hợp của Chính phủ không đáp ứng yêu cầu của xã hội. Có thể đưa ra một số minh chứng để khẳng định điều này. Chẳng hạn, việc các đường phố lớn ở Thủ đô Hà Nội như Trường Chinh, Nguyễn Chí Thanh và một số đường phố khác bị đào lên, đào xuống nhiều lần, thể hiện sự thiếu phối hợp giữa các ngành, các cấp trong việc quản lý đô thị. Hay gần đây, việc xây dựng các khu đô thị cao tầng rất đẹp, rất hoành tráng ở Mỹ Đình, nhưng không hề xây các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông nào, dẫn đến việc quá tải của các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông ở Thủ đô Hà Nội là một ví dụ điển hình cho sự thiếu điều hoà, phối hợp giữa các bộ, ngành.
 Về tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân
 Cuộc cải cách tư pháp đã và đang được tiến hành, tuy nhiên cho đến nay, hệ thống Toà án nước ta vẫn đang được tổ chức theo các đơn vị hành chính lãnh thổ, không phân biệt giữa đô thị và nông thôn, vì thế, một thẩm phán Toà án cấp quận ở các thành phố lớn có thể có khối lượng công việc nhiều gấp 20, 30 lần so với thẩm phán Tòa án cấp huyện ở nông thôn. Toà án nhân dân tối cao vẫn phải xử phúc thẩm cho các bản án bị kháng nghị, kháng cáo của 63 tỉnh, thành và tỷ lệ án tồn đọng vẫn khá cao. Tính độc lập của các thẩm phán vẫn chưa được đảm bảo do nhiệm kỳ bổ nhiệm của thẩm phán chỉ có 5 năm, hết nhiệm kỳ đó, thẩm phán phải được Chánh án Toà án nhân dân tối cao bổ nhiệm lại theo đề nghị của Hội đồng, trong đó có đại diện của Hội đồng nhân dân, Hội Luật gia, Sở Nội vụ và Chánh án Toà án nhân dân tỉnh. Khi xét xử các vụ việc liên quan đến những người trong Hội đồng này, thẩm phán có thể bị tác động. Hơn thế nữa, theo quy chế bổ nhiệm thẩm phán, các thẩm phán đều phải là đảng viên. Thông thường các quan chức hành chính đều là cán bộ các cấp uỷ Đảng, vì thế, thông qua tổ chức Đảng, các cán bộ hành chính có thể tác động đến các thẩm phán và thẩm phán không thể đảm bảo tính độc lập của mình trong hoạt động xét xử. Toà án hành chính ở Việt Nam, một mặt vì nằm trong hệ thống Toà án nhân dân, mặt khác, do thẩm quyền tố tụng hạn chế, vì vậy hoạt động không có hiệu quả, các Toà án hành chính ở địa phương xét xử được rất ít các vụ việc và uy tín của Toà hành chính không cao.
 Việc Dự thảo  sửa đổi Hiến pháp quy định hệ thống: “Toà án nhân dân gồm Toà án nhân dân tối cao và các Toà án khác do luật định” là phương án đúng đắn mở đường cho việc cải cách hệ thống Toà án nhân dân hiện nay. Theo chúng tôi, nên thành lập thêm một cấp Toà án trên cấp tỉnh là Toà phúc thẩm. Toà phúc thẩm là Toà xét xử phúc thẩm cho các bản án của Toà án cấp tỉnh bị kháng nghị, kháng cáo. Toà phúc thẩm nên thành lập ở các thành phố trực thuộc Trung ương và các vùng gồm một số tỉnh gộp lại, như vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc bộ, Bắc Trung bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Tây Nam bộ, Đông Nam bộ. Đối với Toà án huyện, quận cần phải thay đổi quan niệm đồng nhất giữa thành thị và nông thôn. Ở thành phố trực thuộc Trung ương, các quận nên có Toà án sơ thẩm như hiện nay, còn ở các huyện, nên tính toán lại, phụ thuộc vào số lượng các vụ án trên thực tế mà tổ chức, các huyện lớn có thể có Toà sơ thẩm, các huyện bé vụ việc không nhiều thì nên tổ chức một Toà sơ thẩm cho hai hoặc ba huyện gần nhau.
Để đảm bảo tính độc lập của thẩm phán, cần thay thế quy định thẩm phán được bổ nhiệm với nhiệm kỳ 5 năm bằng quy định thẩm phán được bổ nhiệm  như một chức danh nghề nghiệp (suốt đời) và thẩm phán chỉ bị cách chức khi vi phạm pháp luật, có hành vi không xứng đáng với đạo đức nghề nghiệp của mình.
Về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
Sau khi sửa đổi Hiến pháp năm 1992 vào năm 2001, Viện kiểm sát nhân dân các cấp chỉ còn thẩm quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, chức năng kiểm sát chung của Viện kiểm sát bị bãi bỏ, tuy nhiên, chưa có cơ quan chuyên môn nào thay thế Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát chung. Trong bộ máy nhà nước phong kiến, Ngự sử đài/ Đô sát viện thực hiện quyền đàn hạch bách quan, Trưởng Đô sát viện là quan chức có thế lực cao chỉ dưới  Vua và Tể tướng và chỉ trực thuộc Vua. Trước đây, Viện  kiểm sát nhân dân là cơ quan chuyên môn vừa thực hiện chức năng công tố, vừa thực hiện chức năng kiểm sát chung cũng có nhân tố hợp lý, vì chức năng công tố và chức năng kiểm sát có thể tương hỗ lẫn nhau. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu ra và bãi nhiệm, nên cũng có thể tạo ra vị trí độc lập của Viện kiểm sát đối với Chính phủ. Thanh tra Chính phủ là cơ quan của Chính phủ, nên không thể thực hiện giám sát Chính phủ. Do vậy, việc bỏ chức năng kiểm sát chung của Viện kiểm sát nhân dân tối cao mà không giao lại chức năng này cho một cơ quan chuyên môn độc lập với Chính phủ để thực hiện quyền giám sát, thì chức năng giám sát tối cao của cơ quan chuyên môn đã bị bỏ trống, điều này không phù hợp với xu hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền là tăng cường chức năng giám sát bên trong và bên ngoài của bộ máy nhà nước. Theo chúng tôi, muốn kiểm soát được quyền lực nhà nước trong bất cứ mô hình nhà nước nào, thì người có thẩm quyền kiểm soát phải độc lập với người bị kiểm soát, đồng thời phải có các kiến thức chuyên sâu, đặc biệt là trong lĩnh vực pháp luật, kinh tế - tài chính, kế toán, kiểm toán. Đây là lý do mà Nghị viện nhiều nước trên thế giới có Thanh tra Quốc hội và Kiểm toán Quốc hội để giúp Nghị viện thực hiện chức năng giám sát. Vì lý do này, chúng tôi kiến nghị 2 phương án: Thành lập Viện giám sát là cơ quan hiến định độc lập thực hiện chức năng giám sát chung mà Viện kiểm sát nhân dân trước đây đã thực hiện hoặc thành lập Viện giám sát là cơ quan chuyên môn trực thuộc Quốc hội thực hiện chức năng giám sát pháp luật.
Về các thiết chế hiến định 
Trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 có bổ sung thêm một chương về các thiết chế hiến định độc lập bao gồm: Hội đồng Hiến pháp, Hội đồng Bầu cử quốc gia và Kiểm toán Nhà nước. Các thiết chế hiến định này là các cơ quan nhà nước độc lập không nằm trong các hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Chức năng của các thiết chế này là đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền, một nhà nước mà bất kỳ cơ quan nhà nước nào, bất kỳ quan chức nào cũng được đặt trong sự giám sát của pháp luật. Tuy nhiên, cơ cấu tổ chức, biên chế, cách thức hoạt động của các thiết chế hiến định trên đây cần phải được quy định trong các luật riêng về các tổ chức này.
1.Xem Constitutional and administrative law- Hilaire Barnett, Edition Cavendish Publishing Limited, London  2000, p. 380.
GS.TS. THÁI VĨNH THẮNG
Read more…

Vấn đề hiến định sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam

10:29 AM |

Tất yếu khách quan của sự lãnh đạo của đảng chính trị đối với Nhà nước


Sự lãnh đạo của đảng chính trị đối với Nhà nước là quy luật chung trong lịch sử phát triển của xã hội hiện đại, trong tất cả các nhà nước, kể từ khi Nhà nước tư sản ra đời tới nay. Nhưng quy luật ấy thể hiện ra trong không gian và thời gian khác nhau lại phụ thuộc vào trí tuệ, ý chí của con người trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Cùng giống nhau về hệ tư tưởng, về chế độ chính trị nhưng thể chế, hình thức và sự thể hiện thì lại có nhiều cách, nhiều biểu hiện khác nhau. Ở hầu hết các nước theo thể chế chính trị đa nguyên và chế độ đa đảng, thì người ta không thể ghi vào Hiến pháp tên một đảng chính trị nào lãnh đạo nhà nước. Nhưng cuộc đua tranh để trở thành đảng cầm quyền thì lại được pháp luật thừa nhận và quy định khá chi tiết. Sau cuộc vận động bầu cử, người đứng đầu nhà nước (tổng thống hoặc thủ tướng) và bầu cử quốc hội (thượng viện và hạ viện), đảng nào giành thắng lợi thì những chức vụ chủ chốt của nhà nước đều phần lớn do đảng ấy nắm giữ. Ví dụ, ở nước Mỹ, trong Hiến pháp không ghi đảng chính trị nào lãnh đạo nhưng trong luật thực định của họ, vận dụng khi bầu cử, tranh cử đã thể hiện rõ vai trò của hai đảng – Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa – luôn thay thế nhau, chia sẻ quyền lực với nhau trong vai trò của đảng cầm quyền. Ở các nước khác cũng tương tự như vậy, chẳng hạn, năm 2012 ở Cộng hòa Pháp, Chính phủ cánh hữu đã phải nhận thất bại, nhường quyền lãnh đạo nhà nước cho cánh tả, cụ thể là ứng cử viên của Đảng Xã hội trúng cử tổng thống. Tất cả các quốc gia dân chủ không úp mở việc đảng chính trị này hay đảng chính trị khác giành lấy quyền lãnh đạo nhà nước. Họ làm như thế nào để được nhân dân thừa nhận là việc nội bộ của từng nước. Nước Mỹ khác nước Anh, nước Anh không giống nước Pháp, nước Ý. Ở Anh và Nhật Bản, Hiến pháp lại thừa nhận vai trò của nhà vua, họ là những nhà nước quân chủ lập hiến. Không ai có thể ngớ ngẩn, dỗi hơi, vô lối đòi hỏi các quốc gia ấy xóa bỏ chế độ quân chủ lập hiến để hiến định chế độ cộng hòa, cộng hòa tổng thống hay cộng hòa dân chủ nhân dân. Ở nước Nga thời hậu Xô Viết, người ta cũng thành lập chế độ cộng hòa tổng thống theo cách thức của người Nga, chứ không theo cách thức của người Anh để tái thiết lập chế độ Sa Hoàng và Nhà nước Nga hiện nay cũng công khai thừa nhận Đảng Nước Nga thống nhất cầm quyền sau những cuộc đua tranh với các đảng chính trị lớn, như Đảng Cộng sản Nga, Đảng Nước Nga công bằng, Đảng Dân chủ tự do. Tóm lại, sự lãnh đạo của đảng chính trị đối với Nhà nước là quy luật chung, là tất yếu nhưng ở mỗi quốc gia quy luật đó được thể hiện khác nhau, pháp luật quy định khác nhau. Đó là lẽ bình thường.

         Điều 4 của Hiến pháp năm 1992 không chỉ thừa nhận Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, mà còn quy định điều kiện Đảng phải có để giữ được vai trò lãnh đạo. Điều kiện đó là Đảng phải gắn bó chặt chẽ với giai cấp công nhân, phải là đại biểu trung thành cho quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Mọi tổ chức của Đảng phải hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật. Nếu Đảng không tự xây dựng được mình theo những điều kiện đó, thì Đảng không có tư cách là Đảng lãnh đạo.

Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cách vận dụng của Người đối với vấn đề Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước
Thực tế lịch sử đã là căn cứ hùng hồn để khẳng định rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh về một nhà nước dân chủ mới do Đảng Cộng sản lãnh đạo là hoàn toàn đúng đắn. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tiền thân của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay do Hồ Chí Minh - người sáng lập và lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời là người sáng lập và trực tiếp đứng đầu Nhà nước ấy với tư cách là nguyên thủ quốc gia trong 24 năm (1945 - 1969), trực tiếp đứng đầu ngành hành pháp 14 năm (1945 - 1959). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước một cách kỳ tài và tư tưởng của Người về Đảng Cộng sản lãnh đạo Nhà nước đã trở thành chuẩn mực, thành nguyên tắc mà tất cả các thế hệ lãnh đạo kế tiếp Người, cho tới nay, vẫn cần phải học tập và noi theo. Ở đây không chỉ là học tập và noi theo về tấm gương đạo đức, mà cần phải học tập và noi theo toàn diện tư tưởng, đạo đức và tác phong của Người, trong đó học tập về tư tưởng là căn cốt.
Trong phạm vi bài viết ngắn này, theo phương pháp lịch đại, chúng tôi chỉ nêu một cách khái lược tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng lãnh đạo Nhà nước để dõi theo sự phát triển tư tưởng của Người về Đảng lãnh đạo Nhà nước trong sự tương tác với sự phát triển của thời cuộc.
Như trên đã nói, sự lãnh đạo của đảng chính trị đối với Nhà nước là quy luật chung trong lịch sử phát triển của xã hội hiện đại, trong tất cả các nhà nước, kể từ khi Nhà nước tư sản ra đời tới nay. Đối với Hồ Chí Minh, thì vận dụng quy tắc chung ấy phải theo phương pháp tư tưởng “dĩ bất biến ứng vạn biến”, nghĩa là sự lãnh đạo của đảng chính trị là nguyên tắc, là tất yếu, nhưng hình thức và sự thể hiện thì lại có “vạn biến”, tức là có nhiều cách, nhiều biểu hiện khác nhau.
Ở Việt Nam, thì Nhà nước dân chủ nhân dân hay Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa về bản chất vẫn là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo (ngay tên gọi của Đảng cũng đã từng thay đổi: Đảng Cộng sản Việt Nam – Đảng Cộng sản Đông Dương – Đảng Lao động Việt Nam – Đảng Cộng sản Việt Nam). Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước đã là quy luật chung, thành nguyên tắc, nhưng việc có ghi trong Hiến pháp hay không, thậm chí có tuyên bố hay không là tùy thuộc vào tình hình cụ thể. Đối với Hồ Chí Minh, thì nguyên tắc “bất biến” là vừa phải giữ vững quyền lãnh đạo chính trị của Đảng với Nhà nước, vừa phải đảm bảo tôn vinh vai trò của Nhà nước, làm cho Nhà nước ta trở thành một Nhà nước dân chủ mới. Nhà nước dân chủ mới có nghĩa là Nhà nước phải trở thành ngọn cờ tập hợp, đoàn kết dân tộc; Nhà nước ấy phải trở thành ngôi nhà chung đáng tin cậy của tất cả mọi người dân Việt Nam, ở trong cũng như ngoài nước.
Đây là sáng tạo độc đáo của Việt Nam gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp Hồ Chí Minh; nó không giống với bất kỳ nhà nước nào, dù là Nhà nước được xây dựng theo mô hình xã hội chủ nghĩa trước đây hay Nhà nước ở các nước khác đã xuất hiện và đang tồn tại trong lịch sử.
Năm 1946, trong bài trả lời phỏng vấn các nhà báo nước ngoài (ngày 21/01/1946) về vai trò và mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước, Hồ Chủ tịch đã tuyên bố: “Trong một nước dân chủ, thì mọi người đều có tự do tin tưởng, tự do tổ chức. Nhưng vì hoàn cảnh và trách nhiệm, tôi phải đứng ra ngoài mọi đảng phái. Nay tôi chỉ có một tin tưởng vào dân tộc độc lập. Nếu cần có đảng phái, thì sẽ là Đảng dân tộc Việt Nam. Đảng đó sẽ chỉ có một mục đích làm cho dân tộc ta hoàn toàn độc lập. Đảng viên của Đảng đó sẽ là tất cả quốc dân Việt Nam, trừ những kẻ phản quốc và những kẻ tham ô ra ngoài”1.
Trong Báo cáo chính trị đọc trước Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (tháng 2/1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc là một. Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”2. Năm 1955, khi cách mạng Việt Nam đã giành được thắng lợi to lớn (giải phóng miền Bắc), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời một tờ báo của nước ngoài rằng: Đảng của chúng tôi đã trở thành “hình thức tổ chức cao nhất của quần chúng lao động, hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc”3.
Rõ ràng, những tuyên bố nói trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là sách lược chính trị, mà xuyên suốt một tư tưởng chỉ đạo chiến lược: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước Việt Nam là tất yếu lịch sử, nhưng muốn giữ vững được vai trò của Đảng cầm quyền, Đảng ấy trước hết phải là tổ chức “có tính quần chúng”, bao gồm những người ưu tú của dân tộc, Đảng ấy phải là “hình thức tổ chức cao nhất của quần chúng lao động” và quan trọng hơn cả, Đảng ấy phải là “hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc”, phải “là đạo đức, là văn minh”, phải quyết tâm giữ gìn độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, mang lại hòa bình, ấm no, hạnh phúc cho dân tộc. Một Đảng như vậy sẽ thực sự là một đảng lãnh đạo tư tưởng, chính trị, đường lối cho một nhà nước dân chủ mới - Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết một cách sáng suốt: Đảng lãnh đạo nhưng Đảng không làm thay Nhà nước, Đảng không cai trị mà tôn vinh Nhà nước, Đảng lãnh đạo bảo đảm để Nhà nước có thực quyền làm chức năng quản lý mọi mặt của đời sống xã hội.

        Để giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng với Nhà nước, mỗi cán bộ, đảng viên cần gương mẫu chấp hành pháp luật, nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân; đồng thời, thường xuyên tự chỉnh đốn, tự đổi mới, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người đày tớ thật trung thành của nhân dân.

Về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước theo Hiến pháp
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết vấn đề này rất uyển chuyển, vẫn trung thành với phép biện chứng “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Nếu như Hiến pháp năm 1946 (Hiến pháp đầu tiên của nước ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì soạn thảo) không có ghi một dòng, một chữ nào về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thậm chí Người còn tuyên bố những điều như đã nói ở trên, thì đến Hiến pháp năm 1959 (cũng do Người làm Trưởng Ban soạn thảo) trong Lời nói đầu đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) trong công cuộc đấu tranh giành lại độc lập, tự do cho dân tộc và xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, đồng thời xác định bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước dân chủ nhân dân dựa trên nền tảng liên minh công – nông do giai cấp công nhân lãnh đạo, như sau: “Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân ta đoàn kết rộng rãi trong Mặt trận dân tộc thống nhất, nhất định sẽ giành được những thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và thực hiện thống nhất nước nhà. Nhân dân ta nhất định xây dựng thành công một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào công cuộc bảo vệ hòa bình ở Đông Nam châu Á và thế giới”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời trước khi nước nhà thống nhất, nhưng Người đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta bản Di chúc lịch sử, trong đó Người đã nói rõ: “Đảng ta là Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ trung thành của nhân dân”.
Sau khi nước nhà đã hoàn toàn độc lập, thống nhất, năm 1976, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân cả nước quyết định đổi tên nước ta thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngày 18/12/1980, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua bản Hiến pháp năm 1980. Tại Điều 4 của Hiến pháp năm 1980 đã ghi: “Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội... Các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp”. Năm 1992 và lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 (theo Nghị quyết Quốc hội ngày 25/12/2001) trong Điều 4 có sửa chữa đôi chút và ghi: “Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.
Dự thảo lần này vẫn xác định quyền lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, nhưng cũng xác định rõ Đảng phải chịu trách nhiệm phục vụ nhân dân, gắn bó với nhân dân và đặc biệt phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Dự thảo ghi: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo Chủ nghĩa Mác – LêNin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”, theo chúng tôi là chặt chẽ, dân chủ và rõ ràng, trách nhiệm, thể hiện được vấn đề quan trọng nhất của Nhà nước pháp quyền là thượng tôn pháp luật, coi Hiến pháp là tối thượng, bất cứ ai, bất cứ tổ chức nào, kể cả Đảng lãnh đạo, cầm quyền cũng không được ra các quyết định trái với Hiến pháp và pháp luật. Đó là một bước tiến đáng kể trong lịch sử lập hiến nước ta.
Để giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
Làm thế nào để các tổ chức nhà nước, các đoàn thể nhân dân tin cậy, thừa nhận Đảng là người lãnh đạo? Câu trả lời đã có trong di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “không phải bằng mệnh lệnh, đòi hỏi, bắt buộc Nhà nước và Mặt trận phải thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hằng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo”4. Người cũng căn dặn: Đảng là mỗi đảng viên, nhiều đảng viên hợp lại mà thành. Do vậy, phải cố gắng gương mẫu chấp hành pháp luật, “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, phải tự cải tạo mình thành một công dân, một cán bộ gương mẫu. Nên nhớ, “trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến... Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên”5.
Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ cao cấp mới là nguyên nhân cơ bản dẫn tới nguy cơ về suy giảm, thậm chí làm mất đi vai trò lãnh đạo của Đảng với Nhà nước, với xã hội, chứ không phải là vấn đề hiến định hay không.
Chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là giải pháp hữu hiệu, là bảo đảm chắc chắn nhất cho vai trò lãnh đạo của Đảng với Nhà nước. Đảng chính trị lãnh đạo Nhà nước là tất yếu và Đảng phải thường xuyên, nghiêm túc tự chỉnh đốn, đổi mới cũng là tất yếu. Cả hai đều cùng tất yếu như nhau./.

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 4, tr.161-162.
2. Hồ Chí Minh: Sđd, t. 6, tr. 175.
3. Hồ Chí Minh: Sđd, t. 7, tr. 517.
4. Hồ Chí Minh, Sđd, t. 3, tr. 139.
5. Hồ Chí Minh, Sđd, t. 5, tr. 552.
PGS. TRẦN ĐÌNH HUỲNH 
Read more…

Vị trí doanh nhân và các quy định về kinh tế trong dự thảo sửa đổi hiến pháp

9:21 AM |

Ông Phạm Gia Túc - Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam : Từ góc độ là tổ chức đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, chúng tôi xin có một số ý kiến góp ý ban đầu đối với Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 về một số vấn đề liên quan tới cộng đồng doanh nghiệp.

Thứ nhất: Về vị trí của doanh nhân trong liên minh
Điều 2 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp có quy định: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức…”.
Việc xác định liên minh các thành phần giai cấp làm nền tảng cho việc nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước có ý nghĩa quan trọng. Liên minh này cần thể hiện được bản chất của Nhà nước ta, phù hợp với sự lớn mạnh của các giai cấp, lực lượng trong xã hội trong thời gian qua, đồng thời, khuyến khích phát huy vai trò và sự tiên phong của các giai cấp, lực lượng này đối với tương lai phát triển của đất nước. Với quan điểm tiếp cận như vậy, chúng tôi xin đề xuất Ban soạn thảo Dự án sửa đổi Hiến pháp 1992 cân nhắc bổ sung “đội ngũ doanh nhân” vào liên minh này, tạo thành liên minh công – nông – trí – doanh. Vì vậy, Điều 2 có thể được điều chỉnh như sau: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và đội ngũ doanh nhân…”.
Việc bổ sung đội ngũ doanh nhân vào liên minh này phù hợp với quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với việc phát triển và tăng cường vai trò của đội ngũ doanh nhân thể hiện trong Nghị quyết 09-NQ/TW ngày 9/12/2011 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Có thể thấy rõ hơn vấn đề này thông qua phần quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết 09 –NQ/TW trong đó nhấn mạnh: “Xây dựng đội ngũ doanh nhân lớn mạnh là trách nhiệm của Đảng, của cả hệ thống chính trị và của bản thân mỗi doanh nghiệp, doanh nhân. Xây dựng và phát huy vai trò đội ngũ doanh nhân phải gắn liền với hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền sở hữu và tự do kinh doanh của doanh nhân theo pháp luật, khuyến khích doanh nhân làm giàu cho mình và cho đất nước. Tăng cường mối liên kết, hợp tác, đoàn kết cùng có lợi giữa doanh nhân với công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng”.
Việc này cũng phù hợp với quan điểm của Đảng về việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã được bắt đầu từ Hiến pháp năm 1992. Sau hai thập kỷ đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, đội ngũ doanh nhân nước ta đã dần được hình thành và trưởng thành, đóng góp quan trọng cùng các giai tầng khác trong việc xây dựng nền thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đội ngũ doanh nhân cũng đóng vai trò quan trọng vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng mà Đảng và Nhà nước ta khởi xướng, góp một phần vào việc thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và hội nhập toàn diện của đất nước ta.
Thứ hai: Về việc không phân biệt các thành phần kinh tế và không ghi tên cụ thể các thành phần kinh tế 
Chúng tôi nhất trí với Điều 54 của Dự thảo về việc không phân biệt các thành phần kinh tế, ghi nhận các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, cùng phát triển lâu dài, hợp tác, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật. Điều này phù hợp với nguyên tắc “các thành phần kinh tế cùng hoạt động và cạnh tranh bình đẳng”, phù hợp với nguyên tắc không phân biệt đối xử của các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia. Bên cạnh đó, việc không liệt kê tên gọi các thành phần kinh tế cũng thể hiện tính hợp lý, vì các thành phần kinh tế luôn thay đổi, nếu Hiến pháp khẳng định ghi hết các thành phần kinh tế vào thì phù hợp với thời điểm hiện tại, nhưng chưa chắc đã phù hợp với tương lai và có thể đưa đến mâu thuẫn với quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ ba: Về các vấn đề xung quanh chế định đất đai trong Hiến pháp
Đất đai là tài sản quan trọng, là cơ nghiệp lớn nhất của hầu hết các doanh nghiệp và người dân. Đất đai hiện cũng được đánh giá là lĩnh vực nóng trong thực tiễn tại nhiều địa phương. Do vậy, có rất nhiều kỳ vọng trong xã hội về việc sửa đổi chế định này trong Hiến pháp.
Cùng với quá trình sửa đổi Hiến pháp, Luật Đất đai cũng đang được Quốc hội và các cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi với sự tham gia góp ý của đông đảo nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp. Một số ý kiến về những vấn đề lớn liên quan tới sửa đổi Luật Đất đai, mà Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tập hợp được từ quá trình lấy ý kiến đối với Dự thảo Luật này, có thể là nguồn tham khảo có ý nghĩa cho Ban soạn thảo Dự án Hiến pháp sửa đổi.
Theo các ý kiến đóng góp, một trong những lý do khiến việc quản lý đất đai thời gian qua còn nhiều yếu kém chính là sự tồn tại cơ chế “xin – cho” khá nặng nề, cùng với việc sử dụng quá nhiều quy định, quyết định hành chính đối với đất đai…  Trong khi đó, đất đai hay quyền sử dụng đất vốn là một loại hàng hoá (đặc biệt) và cần được quản lý đúng với tính chất “hàng hóa” theo các biện pháp đặc thù. Một trong những giải pháp quan trọng để khắc phục những bất cập này chính là việc đẩy mạnh và tích cực phát huy các yếu tố thị trường liên quan đến đất đai.
Việc phát huy yếu tố thị trường trong quản lý đất đai có thể được cụ thể hóa bằng nhiều biện pháp hiệu quả trong các văn bản luật và dưới luật, ví dụ:
- Các biện pháp đấu thầu quyền sử dụng đất (đối với đất công nghiệp, đất dịch vụ…) một cách công khai, minh bạch thay cho cơ chế giao đất hay Nhà nước trực tiếp đứng ra cho thuê đất; có thể thành lập các tổ chức phát triển quỹ đất hoạt động một cách chuyên nghiệp.
- Các biện pháp định giá đất theo hướng thị trường thông qua việc sử dụng các tổ chức định giá đất độc lập (do các bên thoả thuận lựa chọn) để xác định giá đất phù hợp với giá thị trường. Cách thức này có thể giúp đem lại sự công bằng cho người dân, quyền lợi cho doanh nghiệp và đảm bảo nguồn thu ngân sách; giảm sức ép cho bộ máy hành chính các cấp và hạn chế tình trạng khiếu kiện.
- Các biện pháp thị trường trong quản lý đất nông nghiệp như có lộ trình bãi bỏ các quy định về thời hạn sử dụng đất và quy định về hạn điền, tạo điều kiện cho quá trình tích tụ đất đai. Với động lực kinh tế từ thị trường, quá trình tích tụ đất đai sẽ làm tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp, tăng năng suất lao động, tái phân bổ tài nguyên đất rất quý giá vào những người kinh doanh hiệu quả hơn và giúp họ có điều kiện áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, từng bước hiện đại hóa nền nông nghiệp.
Với quan điểm tiếp cận như vậy, chúng tôi xin đề xuất Ban soạn thảo Dự án Hiến pháp sửa đổi cân nhắc bổ sung cụm từ “phù hợp với các yếu tố thị trường” vào khoản 1 Điều 58 Dự thảo, theo đó:
 “1. Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý phù hợp với các yếu tố thị trường, theo quy hoạch và pháp luật”...
Việc bổ sung cụm từ này cũng có thể mang ý nghĩa quan trọng, làm quan điểm chỉ đạo cho công tác xây dựng và thực thi pháp luật về đất đai sau này./.
Read more…

Không có quân đội ngoài chính trị

8:52 AM |

Trong khi góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, có quan điểm yêu cầu “quân đội phải trung lập, đứng ngoài chính trị”. Tuy nhiên, thực tiễn tổ chức và hoạt động của quân đội trong lịch sử nhân loại đã chứng minh và khẳng định rằng: “Không có quân đội đứng ngoài chính trị”.

Trung tướng, PGS, TS Nguyễn Tiến Bình


Lịch sử chiến tranh và quân đội đã chứng minh và khẳng định rằng, quân đội bao giờ cũng là công cụ bạo lực của một giai cấp, Nhà nước, đảng chính trị để tiến hành đấu tranh vũ trang nhằm thực hiện mục đích chính trị nhất định. Bản chất giai cấp, mục tiêu chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế lãnh đạo, chỉ huy của quân đội phụ thuộc vào quan điểm, đường lối chính trị của giai cấp, Nhà nước, đảng chính trị tổ chức ra quân đội. Không có quân đội trung lập, đứng ngoài chính trị.
V.I. LêNin đã chỉ rõ: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản..., bọn này trong thực tế bao giờ cũng đã lôi kéo quân đội vào chính trị phản động”1.
Về bản chất, quân đội bao giờ cũng là công cụ bạo lực của một giai cấp, Nhà nước, đảng chính trị để tiến hành đấu tranh vũ trang nhằm thực hiện mục đích chính trị nhất định. Tính chất chính trị của quân đội thể hiện tập trung rõ nét ở mục tiêu chiến đấu, tổ chức lực lượng, cơ chế lãnh đạo, chỉ huy và chức năng, nhiệm vụ của quân đội, phụ thuộc vào quan điểm, đường lối chính trị của giai cấp, Nhà nước, đảng chính trị tổ chức ra quân đội.
Những quân đội đầu tiên xuất hiện trong xã hội chiếm hữu nô lệ. Ở phương Tây, trong xã hội Hy Lạp, La Mã cổ đại, quân đội là bộ phận cơ bản hợp thành “Nhà nước lý tưởng” theo tư tưởng của Platon (427 - 347 Trước Công nguyên), nhà triết học kiệt xuất nhất thời cổ đại và là đại biểu tư tưởng của giai cấp chủ nô quý tộc. Đó là tổ chức quân sự bao gồm các công dân tự do dưới sự chỉ huy của các chủ nô, trong đó kỵ binh gồm những công dân giàu có được trang bị tốt nhất, còn bộ binh nhẹ gồm những người nghèo khổ (đẳng cấp thứ tư) được trang bị kém. Quân đội đó có nhiệm vụ bảo vệ Nhà nước chủ nô, trấn áp sự chống đối của nhân dân, điển hình là đàn áp rất tàn bạo cuộc khởi nghĩa nô lệ do Xpactacut lãnh đạo (73 - 71 Trước Công nguyên); tiến hành chiến tranh thực hiện mục đích chính trị của giai cấp chủ nô, điển hình là các cuộc chiến tranh Hy Lạp - Ba Tư (500 - 449 Trước Công nguyên), chiến tranh Pêlôpônedơ giữa Aten với Xpacta (431 - 404 Trước Công nguyên)… nhằm giành quyền bá chủ ở khu vực Địa Trung Hải, thống trị Hy Lạp và tranh giành quyền lực giữa các phái chủ nô quý tộc và chủ nô dân chủ.
Ở phương Đông, những đế chế hùng mạnh với tư duy chính trị - quân sự “nước lớn” và ưu thế về sức mạnh kinh tế, quân sự đã sử dụng quân đội không chỉ để bảo vệ Nhà nước phong kiến, mà còn để chinh phục các nước, thực hiện tham vọng bành trướng. Không phải ngẫu nhiên mà “Binh pháp Tôn Tử” (của Tôn Vũ, ra đời thời Tây Chu, khoảng 496 - 453 Trước Công nguyên), “Binh pháp Ngô Tử” (của Ngô Khởi, ra đời thời Đông Chu, khoảng 440 - 381 Trước Công nguyên) chứa đựng những tư tưởng chỉ đạo tác chiến của quân đội trong các cuộc chiến tranh nhằm tranh bá đồ vương và thôn tính các nước. 
Tư duy chính trị - quân sự của dân tộc Việt Nam khởi nguồn từ chiều sâu văn hóa, với tư tưởng chủ đạo “hòa bình và tự vệ”. Dưới sự lãnh đạo của những minh quân - những nhà tư tưởng uyên bác và các nhà chỉ huy quân sự kiệt xuất, quân đội được tổ chức và hoạt động nhằm bảo vệ chế độ, bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, gìn giữ hòa bình. “Binh thư yếu lược” của Trần Hưng Đạo mang tư tưởng chỉ đạo hoạt động của quân đội và nhân dân trong xây dựng tiềm lực và sức mạnh quốc phòng, tiến hành chiến tranh chính nghĩa nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền của quốc gia dân tộc.
Trong từng thời kỳ lịch sử và ở mỗi quốc gia dân tộc, tổ chức và hoạt động của quân đội có những đặc điểm riêng gắn với điều kiện lịch sử - cụ thể, nhưng đều tuân theo vấn đề có tính quy luật “quân sự phục tùng chính trị”, đều do quan điểm, đường lối chính trị của giai cấp, Nhà nước, đảng chính trị tổ chức ra quân đội quyết định, không có quân đội nào đứng ngoài chính trị.
Trong thế giới đương đại, quan điểm “quân đội phải trung lập, đứng ngoài chính trị” thường xuất hiện ở các nước có đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, nhất là khi sự tranh giành quyền lực giữa các đảng phái chính trị diễn ra gay gắt, dẫn đến khủng hoảng chính trị kéo dài. Quân đội Hoàng gia có vai trò rất quan trọng trong nền chính trị Thái Lan - một đất nước kể từ khi thiết lập chế độ quân chủ lập hiến năm 1932 đến nay đã xảy ra 18 cuộc đảo chính quân sự. Chính phủ và các đảng phái chính trị nắm quyền lực đều ra sức tranh thủ sự ủng hộ về chính trị của quân đội.
Trong nền chính trị với cấu trúc lưỡng đảng ở Mỹ, tuy Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ thay nhau cầm quyền, nhưng về thực chất là những hình thái tổ chức đại diện cho các “tập đoàn lợi ích” khác nhau của giai cấp tư sản, cho dù sự tranh giành quyền lực giữa hai đảng diễn ra rất gay gắt. Đúng như Clin-tơn Rô-xi-tơ (Clinton Rossiter) - nhà nghiên cứu chính trị Mỹ đã nhận xét: “Các đảng phái Hoa Kỳ đạt được nhiều thành công trong việc đối lập hơn là trong việc cai trị”. Không ít trường hợp Tổng thống và nhiều quan chức cao cấp trong Chính phủ là người của một đảng, còn Quốc hội lại thuộc quyền kiểm soát của đảng kia. Trong bối cảnh đó, nhiều chính khách và tướng lĩnh quân đội yêu cầu “quân đội cần trung lập, đứng ngoài chính trị”, về thực chất là muốn quân đội đứng ngoài cuộc đấu tranh của các đảng phái chính trị nhằm giành quyền kiểm soát các cơ quan quyền lực nhà nước. Còn trong thực tế, quân đội Mỹ không hề đứng ngoài chính trị.
Chỉ tính từ năm 1990 đến nay, quân đội Mỹ đã liên tục can dự vào đời sống chính trị của các nước và các khu vực, kể cả tiến hành chiến tranh như ở vùng Vịnh năm 1991, Nam Tư năm 1999, Áp-ga-ni-xtan năm 2001, I-rắc năm 2003…, kích hoạt làn sóng “Mùa xuân Ả - rập” dẫn đến biến động chính trị ở khu vực Bắc Phi - Trung Đông từ năm 2010 đến nay. Chính sách đối ngoại Mỹ phụ thuộc nhiều vào quân đội, vào các tướng lĩnh điều hành các sở chỉ huy của Mỹ ở nước ngoài. Quân đội Mỹ cũng không đứng ngoài những xung đột chính trị trong nước. Ngày 21/8/2012, tướng Martin Dempsey - Chủ tịch Hội đồng tham mưu liên quân chỉ trích các cựu sĩ quan Mỹ vì đã tiến hành một chiến dịch chống lại Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma (Barack Obama). Ông yêu cầu “quân đội phải đứng ngoài chính trị”, song vị tướng bốn sao này lại bị những người thuộc Đảng Cộng hòa cho là thiên vị Đảng Dân chủ trong bầu cử tổng thống năm 2012.
Quân đội nhân dân Việt Nam là một quân đội kiểu mới do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, đồng thời có tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, của Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và nhân dân. Tính chất chính trị của quân đội kiểu mới thể hiện tập trung rõ nét ở lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. ở các quan hệ chính trị - xã hội sâu rộng, cốt lõi là sự trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước xã hội chủ nghĩa và gắn bó máu thịt với nhân dân. ở cơ chế lãnh đạo, chỉ huy thực hiện nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội. ở việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của đội quân công tác, đội quân chiến đấu và đội quân lao động sản xuất có ý nghĩa chính trị - xã hội sâu rộng. Chúng ta luôn coi trọng hàng đầu việc xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu toàn diện của quân đội, kiên quyết chống “phi chính trị hóa quân đội”. Đây thực sự là một nguyên tắc chiến lược và mang tính cấp thiết, có ý nghĩa sống còn không chỉ đối với quân đội, mà còn đối với sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước.
Trong bối cảnh cuộc đấu tranh trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng đang diễn ra rất quyết liệt và phức tạp, chúng ta càng cảm nhận sâu sắc lời cảnh tỉnh của V.I. LêNin: “Chừng nào người ta chưa biết phân biệt được lợi ích của giai cấp này hay giai cấp khác ẩn đằng sau những câu nói, những lời tuyên bố và những lời hứa hẹn có tính chất đạo đức, tôn giáo, chính trị và xã hội, thì trước sau bao giờ người ta cũng vẫn là kẻ ngốc nghếch, bị người khác lừa bịp và tự lừa bịp mình về chính trị”2.


1. V.I. LêNin - Toàn tập, tập 12, Nxb. Tiến bộ, M.1979, tr. 136.
2. V.I. LêNin: Toàn tập, tập 23, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, H.2006, tr. 57.
                                                                                Theo Quân đội nhân dân                                                                 
                                                                          
Read more…